Tát Nước Gầu Dây và những lời chế giễu vội vàng

09/02/2014 20:29

Gần đây trên mạng có một số bài viết chế giễu bức ảnh cụ Hồ tát nước chống hạn năm 1958 và những lời bình, mà theo tôi, một người từng tát gầu dây (gầu dai), là bạn đọc không hiểu về cách tát nước khá khó này. Như tôi từng viết trong một comment, cách đứng của cụ Hồ trong tát nước rất chuẩn, trong khi vị cán bộ đứng phía đối diện đang lúng túng. Tôi có nhờ bác có nick Nông Dân viết thành một bài “Tát nước gầu dây” để bạn đọc tham khảo. Cảm ơn bác Nông Dân.

Gầu dây hay Gàu dai (giai) là tên gọi (có lẽ theo cách gọi hoặc cách phát âm của tùy nơi) đều để chỉ một công cụ khó có thể thiếu của nhà nông trên đồng ruộng.

Vật liệu tạo nên nó chỉ là vài thứ lặt vặt, rẻ tiền, dễ kiếm như bó nứa, cây tre, con dao sắc để vót nan, cộng với chiếc cưa, … là đã có thể tạo lên một nông cụ hiệu dụng, Nó có hình hơi bị giống cái đầu Trâu, rất thân thiết với Nông dân bao đời nay.

Trong ảnh chắc chắn Cụ Hồ đang chỉ cho nhiều người hiểu rằng công việc tát nước không phải là dễ

Dọc thân gầu được nẹp chắc bằng hai bản tre hoặc gỗ. Thêm hai dây buộc trên, được gọi là dây miệng, đây là các dây chịu lực chính, gánh toàn bộ trọng nước nước khi tát. Hai dây buộc dưới là dây đáy, chịu lực ít hơn, dùng để định hướng Gầu theo từng thời điểm khi tát nước..

Tát nước bằng gầu dây cần phải có hai người, mỗi người cầm hai dây phía đối diện đặt xong xong. Thế đứng hơi nghiêng, chân sau hơi choãi ra trụ vững, chân trước đặt ở một vị trí chỉ cố định.

Tát nước gầu dây

Trong một chu kì tát: Bắt đầu hất nhẹ Dây miệng, Dây đáy phía sau hơi nhấc cao. Tiếp theo hai người cùng hơi chùng gối trước và khom lưng thả dây cho gàu rơi xuống vũng nước, lúc này dây miệng thả chùng hơn dây đáy.

Theo quán tính miệng Gầu sẽ vục nhanh vào nước đủ tầm. Khi đó thả nhanh dây đáy chùng hết cỡ, co tay đang cầm dây miệng, đồng thời thăng gối trước, hơi ngửa người ra sau kéo nhanh Gầu từ dưới vũng vọt lên. Cuối cùng, khi gầu lên cao đến dủ tầm thả chùng Dây miệng, và hất cao Dây đáy để đổ nước, tiếp tục gạt ngang dây miệng về phía đáy, để tiếp chu kì sau.

Người tát nước quen, tùy theo mực nước mà để dây Gầu có độ dài thích hợp với độ chênh lệch của nước. Khi tát nước tay phải dẻo, nhịp nhàng, chỉ tập chung dùng lực ở cơ tay cầm dây miệng, gối trước và vùng thắt lưng, chớ dùng nhiều lực toàn thân sẽ mau mệt (mà có việc cũng cần làm gần như thế)!. Nói thì dễ, nhưng thực hành cũng không dễn chút nào đâu, nhất là mấy anh “dài lưng tốn vài”!. Trong ảnh, khỏe như cô Tây còn dơ tay hàng cơ mà!.

Với Nông dân trên cùng một vũng gầu, tới 4 người cùng tát với hai gầu, múc, đổ trên dưới nhịp nhàng mà Gầu không chạm nhau là chuyện bình thường.

Tát nước gầu dai 4 người. Ảnh: Internet

Trở lại ảnh Cụ Hồ khi tham gia tát nước chống hạn với bà con nông dân ở Thường Tín, Hà Đông ngày 12-1-1958. Chắc chắn đây là ảnh trung thực, không hề có sự bố trí, chuẩn bị hay đóng kịch.

Trong ảnh chắc chắn Cụ Hồ đang chỉ cho nhiều người hiểu rằng công việc tát nước không phải là dễ. Người cầm dây gầu phía đối diện, còn để tréo dây, tư thế tay và đứng như thế, làm sao múc được nước, mà vội suy luận “Tôi xem tấm ảnh trên và nhận xét rằng, Bác Hồ của chúng ta đang tát nước bùn đen vào các chiễn sĩ bộ đội tham gia giúp dân tát nước dọc sông Hòa Bình. Không nhẽ một vị lãnh tụ của nhân dân lao động lại có việc làm vô cảm như thế: Tát nước vào nhân dân?. Do đó lời giải thích đúng đắn nhất sẽ là: tấm hình ấy cũng chỉ là tư liệu ghi lại thời khắc Bác Hồ diễn kịch, nhưng vớ phải tay đạo diễn tồi”. (Đăng trên blog Quê Choa)

Vòng đỏ là chỗ nước hắt vào. Một anh cán bộ đứng bên phải đang phải nép vào anh mặc đồ trắng. cách đứng của cụ Hồ trong tát nước rất chuẩn, trong khi vị cán bộ đứng phía đối diện đang lúng túng

Bạn đọc lưu ý, trong ảnh trên, phần mương khá rộng, đủ để biết là cái sòng cụ đang lấy nước vào gầu là có nước chứ không phải bùn. Không hiểu do vô tình hay cố ý, người ta đăng ảnh trên các báo lại cắt mất phần mương đầy nước, gây cho người xem có cảm giác cụ đang tát bùn. (Cách đứng của cụ Hồ trong tát nước rất chuẩn, trong khi vị cán bộ đứng phía đối diện đang lúng túng)

Bức ảnh đã bị cắt phần mương có nước.
Ảnh này còn bị cắt nhiều hơn. Ảnh: trong bài của Kami “Dân bây giờ ghê gớm lắm”

Cụ Hồ THAM GIA tát nước chống hạn, không có nghĩa trong ảnh này thể hiện Cụ ĐANG tát nước, mà đúng hơn Cụ ĐANG HƯỚNG DẪN tát nước. Việc gì ra việc đó, thì sự hòa giải, đoàn kết người Việt Nam chúng ta chắc chắn hanh thông.

Kết bài: Xin tặng những người đã ly Nông, lại ly cả Hương, mấy câu ca dao:

“Anh đi anh nhớ quê nhà
Nhớ canh rau muống nhớ cà dầm tương
Nhớ ai dãi nắng dầm sương
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao”.

Bạn đọc: Nông Dân

(Hiệu Minh Blog)

Du lịch Tây tát nước. Ảnh: Internet

Đọc thêm trên báo Bắc Giang (http://baobacgiang.com.vn/274/120422/Chiec_gau_giai.bgo)

Có lẽ chiếc gầu giai ra đời ngay từ buổi đầu của nền văn minh lúa nước. Các cụ ta xưa đã đúc kết bí quyết của sự được mùa trong nông nghiệp vào bốn chữ “nước, phân, cần, giống”. Rõ ràng nước được đặt lên hàng đầu.

Chiếc gầu giai thân thiết với người dân quê hàng bao đời nay.

Vâng! Ngày xưa người nông dân phải “trông trời, trông đất, trông mây”, phải “lạy giời mưa xuống/ lấy nước tôi uống/ lấy ruộng tôi cày/ lấy đầy bát cơm…”. Nhưng, kêu trời, nào trời có thấu? Thế là người dân quê phải tự cứu lấy mình. Để có nước cấy cày, họ phải đào mương, dẫn nước về đồng, rồi phải làm ra những chiếc gầu (trước hết là gầu giai) để tát nước vào ruộng.

Chiếc gầu giai được đan bằng nan giang, hoặc nan nứa. Người đan gầu phải đan sao cho gầu vừa mỏng, vừa nhẹ nhưng lại đủ bền. Gầu giai có hình đầu cá trê. Gầu hình đầu cá trê múc nước vừa đằm lại múc được nhiều nước. Gầu đan xong được buộc cạp, buộc nẹp gầu, thang gầu và lắp lưỡi gầu.

Nẹp gầu, thang gầu làm bằng tre. Còn lưỡi gầu được làm bằng một đoạn thanh tre mai (hoặc nứa tươi) bổ đôi, ép phẳng, uốn cong, lắp vừa vào một bên miệng gầu. Nhờ có cái lưỡi này mà chiếc gầu giai trong tay anh thợ cày và cô thợ cấy đã bao đời múc được “ánh trăng vàng” no ấm.

Chiếc gầu giai có trôn gầu và miệng gầu. Trôn gầu nhỏ, miệng gầu mở rộng. Người ta buộc vào gầu bốn cái dây. Dây gầu được bện bằng lạt tre vừa đủ mềm, vừa đủ bền để kéo nước. Hai dây trôn được buộc vào nẹp gầu phía ngoài trôn gầu. Hai dây miệng được buộc vào thang gầu trên miệng gầu.

Tát nước gầu giai phải có hai người. Mỗi người cầm một dây trôn và một dây miệng. Phía dây tay người cầm được xỏ vào một ống tre dài bằng chiều ngang bàn tay, to bằng tay nắm ghi đông xe đạp gọi là rung rúc gầu để người tát nước khỏi bị rát tay. Dây miệng ngắn hơn dây trôn vì thế nếu tay trái cầm dây miệng thì chân trái phải bước lên một bước. Tay phải cầm dây trôn thì chân phải choãi về phía sau.

Khi tát nước, hai người phải cúi người xuống cùng thả dây nhịp nhàng sao cho lưỡi gầu chúc xuống múc được đầy gầu nước, sau đó hai người cùng lôi dây miệng và dây trôn kéo gầu nước từ sông lên. Khi kéo nước, tay cầm dây miệng phải kéo mạnh, còn dây trôn chỉ cần giữ thăng bằng. Khi gầu nước được kéo lên đến bờ thì người tát phải nhanh chóng hạ dây miệng, nâng dây trôn lên để đổ nước vào ruộng.

Đến thời vụ đổ ải cuối tháng chạp âm lịch, những người dân quê phải ra đồng từ hai, ba giờ sáng trong cái giá buốt thấu xương. Có khi phải đứng gầu đôi, gầu ba tức là phải đứng hai người hoặc ba người một bên máng tát mới bảo đảm đủ nước cho ruộng ải.

Thế rồi khi lúa lên xanh, gặp khi trời khô hạn, những chiếc gầu giai lại mang niềm vui đến cho những cánh đồng. Cá, tôm, cua… và ánh trăng vàng từ dòng sông thơ mộng cũng theo gầu nước được trải lên cánh đồng trước sự reo vui của muôn nghìn nàng lúa nước đương thì con gái.

Có lẽ chiếc gầu giai đã làm bạn với người dân quê từ hàng nghìn năm. Chiếc gầu giai đã đi vào ca dao, tục ngữ. “Hỡi cô tát nước bên đàng/ Sao cô múc ánh trăng vàng đổ đi…”. Anh canh điền gặp cô thôn nữ vào một đêm trăng… Chiếc gầu giai đã xe duyên cho họ thành vợ thành chồng. Đến khi sắp sửa có con, anh canh điền lại lo “Thì thòm tát nước gầu giai/ Đến khi vợ đẻ lấy ai thì thòm?”…

Nhờ có chiếc gầu giai mà lúa vàng mẩy hạt. Nhờ có chiếc gầu giai mà dâu xanh, mía ngọt, đỗ thơm, lạc béo, khoai bùi. Nhờ có chiếc gầu giai  mà tình duyên lứa đôi nồng thắm. Nhờ có chiếc gầu giai  mà kết thân nghĩa xóm tình làng.

Phạm Minh Giang

Từ khóa:
Xem nhiều

Tin liên quan

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM