Việt Nam học được gì từ cuộc chiến biên giới 1979 ?

22/02/2018 15:50

Vậy là đã 39 năm kể từ ngày Đặng Tiểu Bình xua quân xâm lược Việt Nam. Dù chỉ diễn ra chính thức trong 30 ngày, nhưng cuộc chiến đã để lại rất nhiều hệ lụy đối với đất nước, kéo dài suốt 10 năm sau đó, thậm chí liên đới đến tận hôm nay.

Bộ đội Việt Nam và tù binh Trung Quốc

Trước tiên, đây có lẽ là một cuộc chiến “bắt buộc” hay không thể tránh khỏi do nhiều nguyên nhân, trong đó có mâu thuẫn giữa các nước Xã hội Chủ nghĩa thời Chiến tranh Lạnh. Dù Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (VNDCCH) đã luôn cố gắng duy trì mối quan hệ nồng ấm cùng lúc với cả Liên Xô và Trung Quốc, nhưng căng thẳng giữa hai “nước lớn” này lại bị đẩy lên đến đỉnh điểm. Khi ấy, Hà Nội đã nhất định không chịu đứng về phe Bắc Kinh, thậm chí còn thiết lập đường dây nóng với Moscow.

Thứ nữa, giữa Hà Nội và Bắc Kinh luôn tồn tại nhiều bất đồng về cuộc chiến ở Việt Nam. Trong khi Bắc Kinh chỉ muốn Hà Nội tiếp tục thực hiện chiến tranh du kích có giới hạn để chống lại Mỹ thì Hà Nội bằng mọi giá phải hoàn thành sứ mệnh thống nhất đất nước. Ngoài ra, lãnh đạo Hà Nội còn muốn trực tiếp đàm phàn với Mỹ, không qua trung gian, nhất là từ sau sự kiện Mậu Thân (1968), khiến Bắc Kinh không khỏi “tức giận” và phản đối. Có thể nói, từ trong sâu thẳm, Trung Quốc không bao giờ mong muốn chứng kiến một Việt Nam thống nhất và trở nên hùng mạnh, để có thể đe dọa “vị thế” lẫn tầm ảnh hưởng của họ.

Tổng bí thư Lê Duẩn động viên các chiến sĩ chiến đấu bảo vệ Tổ Quốc

Tiếp đó là sự lật lọng của Pol Pot và tập đoàn diệt chủng Khmer Đỏ – vốn là tay sai do Trung Quốc đào tạo, mặc dù trước đó đã nhận sự giúp đỡ to lớn của Hà Nội để giành được chính quyền Campuchia từ tay Lon Nol. Cụ thể, sau khi chiến tranh Việt Nam kết thúc, Pol Pot đã liên tục gây hấn bằng chiêu bài “dân tộc cực đoan”, kích động lòng căm thù của dân Khmer với người Việt nhằm đòi lại những phần lãnh thổ đã mất từ trước thế kỷ 18 (bao gồm cả Sài Gòn và Nam Kỳ lục tỉnh). Từ tháng 5/1975 đến 1978, chúng đã rất nhiều lần tổ chức tập kích sâu vào trong lãnh thổ của Việt Nam, bắt bớ và tàn sát “dã man” hàng chục ngàn dân thường. Sở dĩ Pol Pot dám làm vậy là do được Trung Quốc hậu thuẫn mạnh mẽ, thông qua viện trợ tiền bạc, vũ khí, lương thực và cả các cố vấn quân sự, … Dù chính phủ Việt Nam đã không ít lần đề nghị Trung Quốc giúp đỡ, đứng ra làm trung gian dàn xếp quan hệ và đàm phán lãnh thổ với Campuchia, nhưng câu trả lời luôn chỉ là sự im lặng. Điều đó cho thấy, Trung Quốc có dã tâm sử dụng Campuchia để tấn công, quấy phá Việt Nam. Thậm chí, khi Pol Pot hoàn thành xong chiến dịch “diệt chủng”, giết toàn bộ người Khmer, Đặng Tiểu Bình có thể sẽ đưa hàng triệu quân sang Campuchia, tạo thành thế gọng kìm nhằm khống thế Việt Nam từ cả phía Bắc và Tây Nam. Trước tình thế vô cùng hung hiểm, các lãnh đạo Việt Nam (Tổng bí thư Lê Duẩn, cố vấn Lê Đức Thọ, tướng Lê Trọng Tấn, Lê Đức Anh, …) đã không có lựa chọn, bắt buộc phải tổ chức phản công, đập tan và truy quét Pol Pot tới tận sào huyệt cuối cùng. Hành động “côn đồ” của Trung Quốc khi đánh úp biên giới Việt Nam, thực chất cũng là để cứu bè lũ “tay sai” khỏi chết.

Quân tình nguyện Việt Nam quét sạch tập đoàn diệt chủng Pol Pot

Theo nhiều chuyên gia quân sự, Quân đội nhân dân Việt Nam khi ấy được đánh giá vượt hơn hẳn Trung Quốc về tinh thần, mức độ thiện chiến, kinh nghiệm trận mạc, bên cạnh việc sở hữu cả một kho vũ khí “khổng lồ” thừa hưởng từ Liên Xô, Mỹ và cả Trung Quốc. Vì thế, chỉ bằng quân dự bị và du kích địa phương, song với lối đánh thông minh cùng chiến thuật “tiêu hao sinh lực địch” cực kỳ hiệu quả, Việt Nam đã khiến Quân giải phóng Trung Quốc phải trả giá đắt – con số thương vong ước tính vượt quá 50.000. Ngoài ra, nhiều mục tiêu quân sự mà Đặng Tiểu Bình tuyên bố trước cuộc chiến đã không tài nào đạt được.

Bộ đội Việt Nam bên cạnh xe tăng Trung Quốc bị phá hủy

Dẫu vậy, mặc dù thất bại về quân sự nhưng Trung Quốc có vẻ như lại đạt được khá nhiều mục tiêu quan trọng mang tính chiến lược khác như: cứu Pol Pot khỏi chết để đám tàn dư tiếp tục quấy phá Việt Nam; Đặng Tiểu Bình nhân cơ hội dẹp yên được những mầm mống chống đối với ông ta trong nội bộ Đảng CS, đưa Trung Quốc bắt tay và nhận hậu thuẫn của Hoa Kỳ để nhanh chóng hiện đại hóa nền kinh tế cùng quân đội; nhưng cay đắng hơn, họ Đặng đã đẩy Việt Nam vào thế sa lầy suốt 10 năm tại Campuchia, dẫn tới bị bao vây, cấm vận, dần dần kiệt quệ và lâm vào khủng hoảng, nhất là khi Liên Xô suy yếu.

Trong lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc, cha ông chúng ta thường có những sách lược ngoại giao rất mềm mỏng và uyển chuyển. Chẳng hạn, sau chiến thắng Kỷ Dậu (1789), vua Quang Trung đã chủ động sai sứ sang Trung Quốc cầu hòa với nhà Thanh. Thái độ đó được người đời sau đánh giá là khôn ngoan khi ông làm hòa với kẻ địch ở tư thế của “kẻ chiến thắng”, điều đó giúp đem lại hòa bình lâu dài cho Đại Việt cả trăm năm sau. Thế nhưng, sau cuộc chiến năm 1979, các lãnh đạo của chúng ta đã không chủ động tìm cách làm hòa ngay với Trung Quốc, mà lại chờ tới lúc khối Xã hội Chủ nghĩa sụp đổ. Việc bình thường hóa quan hệ với Trung Quốc tại Hội nghị Thành Đô (1991) khi đang ở vào thế yếu khiến cho Việt Nam thực sự “mất” rất nhiều – nói như cố bộ trưởng ngoại giao Nguyễn Cơ Thạch.

Tại hội nghị Thành Đô (1991), Việt Nam bình thường quan hệ với Trung Quốc khi ở vào thế yếu vì Liên Xô đang tan rã

Sau ngày thống nhất đất nước (30/04/1975), nhẽ ra Việt Nam cũng đã sớm có cơ hội bình thường hóa quan hệ với Mỹ, nhất là khi chính quyền của cựu Tổng thống Jimmy Carter có ý chủ động nối lại liên lạc, … nếu điều đó xảy ra, biết đâu chừng chúng ta đã có thể tránh được hai cuộc xung đột “đẫm máu” liên tiếp với Campuchia và Trung Quốc. Thế nhưng, lãnh đạo của chúng ta – khi ấy còn đang say sưa với chiến thắng trước người Mỹ và chế độ Việt Nam Cộng Hòa – đã không ngay lập tức thực hiện “việc rất nên làm” mà vốn chỉ cần một chút “tinh tế” cũng có thể thành công. Chẳng hạn, chúng ta không cần đòi đền bù thiệt hại chiến tranh thì tự bản thân Mỹ cũng sẽ hỗ trợ chúng ta tái thiết đất nước. Tệ hại hơn, hoạt động quân sự của chúng ta tại Campuchia đã khiến Mỹ có cớ áp đặt lệnh cấm vận trừng phạt, mãi đến khi làm hòa vào đầu thập niên 1990 thì chúng ta lại lâm vào thế yếu.

Nhẽ ra ngay sau khi thống nhất đất nước, Việt Nam nên sớm bình thường hóa quan hệ với Mỹ, nhưng chúng ta đã đẩy họ bắt tay với Trung Quốc

Do đó, dù đã khiến Trung Quốc thất bại với các mục tiêu chiến thuật trong quân sự, song có lẽ Việt Nam mới chính là người “thua cuộc” lớn nhất trong ván bài lớn, khi sức nước trở nên kiệt quệ và thế nước thì bị rẻ rúm, cô lập, … trong lúc các quốc gia lân bang như Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore, Thái Lan, … thì tiến nhanh như vũ bão trở thành những con rồng, con hổ trong khu vực. Chiến thắng của chúng ta như vậy, phải chăng là quá đắt?

Ngày hôm nay sau 39 năm, đã tới lúc người Việt Nam nên nhìn nhận lại về cuộc chiến với Trung Quốc trên tinh thần “khách quan” và “trung thực” hơn. Chúng ta sẽ không bao giờ có thể quên ngày 17/02/1979, song nhớ không phải để báo thù hay nuôi niềm thù hận, mà là để sòng phẳng với lịch sử và với cả chính mình. Khi ấy, may ra một tương lai mới, sáng sủa hơn mới được định hình. Trong thế kỷ 20, Việt Nam tự hào vì chiến thắng 4 đế quốc to (Pháp, Nhật, Mỹ, Trung Quốc), nhưng người Thái Lan tỏ ra hạnh phúc hơn khi không phải đánh nhau với bất cứ nước lớn nào. Liệu có lợi ích gì khi bị cuốn vào cuộc chiến với một cường quốc tỷ dân như Trung Quốc?

Sau cùng, cá nhân người viết cho rằng, sai lầm của chúng ta năm 1979 và cả giai đoạn trước đó là đã đi với nước này để chống lại nước kia. Khi đó, Việt Nam đã quá phụ thuộc vào viện trợ của Liên Xô, để rồi đến lúc khối Xã hội chủ nghĩa lâm vào khủng hoảng thì trở nên bơ vơ, lạc lõng. Nhưng đến tận hôm nay, chúng ta có vẻ vẫn chưa rút ra bài học lịch sử. Trước mưu đồ bành trướng và sức ép đang ngày càng lớn từ phía Trung Quốc, nhẽ ra chúng ta cần có một đồng minh – đủ mạnh – để hợp sức bảo vệ mình, thì chủ trương “không đi với nước này để chống nước kia” lại được áp dụng một cách máy móc – điều nhẽ ra đúng hơn vào năm 1979.

Trung Quốc đang không ngừng cải tạo và quân sự hóa biển Đông

Những động thái của Trung Quốc thời gian gần đây như đưa giàn khoan HD 981 vào thăm dò thềm lục địa Việt Nam; tăng cường hoạt động cải tạo, xây dựng và quân sự hóa các hòn đảo, thậm chí âm mưu thiết lập vùng nhận dạng phòng không ADIZ trên Biển Đông, … cho thấy Trung Quốc không bao giờ muốn có “hòa bình và ổn định” trong khu vực. Không chỉ an ninh của Việt Nam đang bị đe dọa, mà cả lãnh thổ và hải phận của chúng ta cũng đang đứng trước nguy cơ không được bảo toàn. Mặc dù Việt Nam vẫn chủ trương không đi với nước này để chống nước kia, nhưng đâu có ai cấm chúng ta liên minh với một cường quốc để tự bảo vệ an ninh và lợi ích của mình ?

Nguồn trích dẫn butdanh.net

Xem nhiều

Tin liên quan

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Video