+
Aa
-
like
comment

Nga đạt được gì sau 10 năm xoay trục hướng Đông?

Bích Vân - 05/05/2022 15:07

Mới đây, trang mạng Valdai đã có bài viết của tác giả Nivedita Kapoor, Nghiên cứu viên tại Khoa kinh tế và chính trị thế giới thuộc Trường Đại học Kinh tế cao cấp, cho biết chiến dịch quân sự đặc biệt của Nga ở Ukraine vẫn đang tiếp diễn, nghĩa là không nên đánh giá thấp tác động tiềm tàng của các biện pháp trừng phạt kinh tế tàn khốc của phương Tây đối với Nga trong nhiều khu vực.

Nếu giao tranh kéo dài và các lệnh trừng phạt chống Nga vẫn được duy trì thì có khả năng Nga sẽ bị cô lập về kinh tế và vỡ nợ. Thậm chí, ngay cả khi Nga cố gắng tránh bị sụp đổ thì những điểm yếu của chính sách hướng Đông cũng sẽ lộ rõ và điều này về lâu dài không thể không tác động tới tầm ảnh hưởng toàn cầu của Nga.

Theo đó, đã một thập kỷ kể từ khi Nga chính thức tập trung xoay trục sang phía Đông, những câu hỏi về tính hiệu quả của dự án vẫn còn đó. Sự hoài nghi này xuất phát từ 3 yếu tố chính: không đạt được các mục tiêu ban đầu, mục tiêu chính trị không rõ ràng và biến động đang diễn ra ở châu Á-Thái Bình Dương.

Người ta vẫn cho rằng kế hoạch xoay trục này đã được chính thức công bố tại Diễn đàn hợp tác châu Á-Thái Bình Dương (APEC) năm 2012. Các mục tiêu trong sáng kiến này được mô tả là phát triển vùng Viễn Đông của Nga, đa dạng hoá quan hệ kinh tế với khu vực châu Á-Thái Bình Dương và tăng cường sự hiện diện tổng thể của Nga tại đây.

Vài năm sau, Nga thông báo về một tầm nhìn lớn hơn nhiều là Đại Á-Âu, bao gồm các quốc gia Đông, Đông Nam và Nam Á, cũng như Trung Á và châu Âu. Nói cách khác, việc xoay trục sang phía Đông được đưa vào một khuôn khổ rộng lớn hơn, ngụ ý rằng thành công ở các tiểu vùng khác nhau của Đại Á-Âu sẽ góp phần vào việc thực hiện tổng thể chính sách của Nga.

Tuy nhiên, cho tới nay, ý tưởng này vẫn chưa tiến xa hơn giai đoạn khái niệm, với một số ít các tiến triển trong thực tế, và còn quá sớm để đưa ra kết luận về tương lai của ý tưởng này. Trong khi đó, sự trỗi dậy của khu vực Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, những lo ngại khu vực về một Trung Quốc hiếu chiến, sự cạnh tranh gia tăng giữa Mỹ và Trung Quốc, và sự hình thành của nhóm Bộ tứ và Liên minh ba bên Anh-Mỹ-Australia (AUKUS) đã làm thay đổi cán cân quyền lực khu vực.

Mặc dù Nga khẳng định chuyển dịch địa chính trị và địa kinh tế toàn cầu sang phía Đông, nhưng về cơ bản, Nga vẫn coi tương lai của trật tự thế giới và trọng tâm quân sự-ngoại giao của nước này vẫn ở phía Tây và hậu quả của chiến dịch quân sự đặc biệt trên lãnh thổ Ukraine sẽ làm hạn chế đáng kể khả năng Nga đạt được các mục tiêu chính trị ở phương Đông.

Mục tiêu chiến lược của Nga ở châu Á

Tổng thống Putin, Thủ tướng Narendra Modi và Chủ tịch Tập Cận Bình

Kể từ khi nhận thấy sự thay đổi lâu dài trong chính trị thế giới, Nga đã nhiều lần nêu ý định cải thiện quan hệ với khu vực châu Á-Thái Bình Dương. Chiến lược An ninh quốc gia của Nga nhấn mạnh các mục tiêu trong chính sách đối ngoại là phát triển quan hệ đối tác với Trung Quốc và Ấn Độ, đảm bảo sự ổn định của khu vực châu Á-Thái Bình Dương và hỗ trợ các thể chế đa phương trong khu vực, bao gồm ASEAN và các định dạng khác nhau.

Tổng thống Vladimir Putin trong bài phát biểu của mình tại Hội nghị mở rộng của Bộ Ngoại giao Nga đã nói về sự chuyển dịch “trọng tâm của nền kinh tế và chính trị thế giới” sang khu vực châu Á-Thái Bình Dương, đòi hỏi Nga phải “tiếp tục phát triển mạnh mẽ quan hệ với các quốc gia” trong khu vực, phù hợp với mục tiêu thiết lập quan hệ Đối tác Á-Âu mở rộng.

Hơn nữa, sự kết nối của khu vực châu Á-Thái Bình Dương với kế hoạch của Nga về việc thiết lập Đại Á-Âu đã nhấn mạnh tầm quan trọng của khu vực đối với việc xác định chỗ đứng của Nga trong trật tự quốc tế đang phát triển. Chính những tư tưởng đó đã hình thành nên cơ sở của khái niệm chính sách đối ngoại năm 2016, bao gồm ý tưởng hình thành không gian hoạt động chung cho ASEAN, Tổ chức hợp tác Thượng Hải (SCO) và Liên minh kinh tế Á-Âu (EAEU), duy trì hoà bình ở Đông Bắc Á và thiết lập quan hệ nồng ấm với Nhật Bản.

Tuy nhiên, Nhật Bản, Hàn Quốc và Singapore đã tham gia các lệnh trừng phạt của Mỹ, trong khi Ấn Độ tiếp tục có lập trường linh hoạt, nhưng rõ ràng không hài lòng với hành động của Nga ở Ukraine. Như vậy, hành động của Moskva ở Ukraine rõ ràng là đòn giáng mạnh vào các mục tiêu của chính nước này trong khu vực.

Kết quả 10 năm xoay trục hướng Đông

Việc ưu tiên phát triển vùng Viễn Đông của Nga đã dẫn tới tỷ lệ tăng trưởng cao hơn so với mức trung bình của cả nước và tăng trưởng đầu tư, nhưng quy mô thị trường vẫn không đủ lớn. Theo đánh giá, đến năm 2019, chỉ có gần 20% vốn đầu tư đổ vào khu vực, tương đương khoảng 2 tỷ USD, là từ các nhà đầu tư nước ngoài. Các nguồn vốn phương Tây từng cung cấp phần lớn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào vùng Viễn Đông của Nga, nay đã rút lui vì các lệnh trừng phạt sau khi Nga sáp nhập Crimea hồi năm 2014. Hy vọng vào FDI của Trung Quốc cũng giảm.

Chương trình hợp tác giữa vùng Đông Bắc của Trung Quốc với Viễn Đông và Đông Siberia (2009-2018) không đạt được mục tiêu, dẫn đến việc hình thành một chương trình mới cho giai đoạn 2018-2024. Trung Quốc, Nhật Bản và Hàn Quốc là các đối tác thương mại chính trong khu vực, nhưng kim ngạch thương mại vẫn ở mức nhỏ.

Tuy nhiên, Nhật Bản đạt được một số thành công trong các doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Viễn Đông. Chính sách phương Bắc mới của Hàn Quốc coi Nga là một mắt xích quan trọng, nhưng sau năm 2014, đầu tư vào Viễn Đông giảm. Ngoài ra, phát triển thương mại cũng bị cản trở bởi các vấn đề về cơ sở hạ tầng và môi trường kinh tế. Mãi đến gần đây, Ấn Độ mới chú ý đến khu vực này và công bố hạn mức tín dụng 1 tỷ USD vào năm 2019. Đây là hướng đi mới đối với các doanh nghiệp Ấn Độ và mức độ quan tâm đến khu vực này vẫn đang được xem xét. Nói cách khác, Viễn Đông vẫn chưa đạt được mục tiêu đã nêu là hội nhập vào nền kinh tế của khu vực châu Á-Thái Bình Dương.

Về đa dạng hoá quan hệ kinh tế với khu vực châu Á-Thái Bình Dương, phần lớn tăng trưởng thương mại với khu vực này là nhờ quan hệ thương mại với Trung Quốc tăng lên chứ không phải do đa dạng hoá rộng hơn.

Số liệu cho thấy thương mại của Nga với Trung Quốc từ 2017 – 2021

Số liệu cho thấy thương mại của Nga với Trung Quốc tăng từ 87,5 tỷ USD năm 2012 lên 88,2 tỷ USD năm 2014 và 104,1 tỷ USD năm 2020; tuy nhiên thương mại với Nhật Bản giảm lần lượt từ 31,3 tỷ USD năm 2012 xuống còn 30,7 tỷ USD năm 2014 và 16,2 tỷ USD năm 2020; với Hàn Quốc từ 24,9 tỷ USD xuống còn 19,6 tỷ USD năm 2020; với Ấn Độ giảm từ 10,6 tỷ USD năm 2012 xuống còn 9,2 tỷ USD năm 2020 và với ASEAN giảm từ 18,1 tỷ USD năm 2012 xuống còn 13,6 tỷ USD năm 2020.

Cơ cấu thương mại của Nga tại Đông Á và Thái Bình Dương đang phát triển với xu hướng nghiêng hẳn về Trung Quốc. Sự mất cân bằng tiếp tục kéo dài, khi tỷ trọng của Trung Quốc trong kim ngạch thương mại của Nga là 18%, trong khi tỷ trọng của Nga trong kim ngạch thương mại của Trung Quốc chỉ ở mức 2%.

Do Nga không phải là đối tác thương mại lớn của khu vực nên các lệnh trừng phạt kinh tế chỉ làm xấu đi vị thế của Nga. Cũng còn phải xem liệu Nga có thể sử dụng các cơ chế như hệ thống UnionPay của Trung Quốc, Hệ thống thanh toán liên ngân hàng xuyên biên giới (CIPS) và giao dịch bằng đồng tiền quốc gia để khắc phục một phần những vấn đề này hay không. Rất khó để đánh giá về sự sẵn sàng hợp tác của các quốc gia khác liên quan tới các biện pháp trừng phạt thứ cấp. Ngay cả khi một số biện pháp trừng phạt có thể né tránh được, thì rõ ràng tình hình kinh tế Nga sẽ có tác động tiêu cực đến hoạt động thương mại, làm chậm hơn nữa tốc độ thực hiện vốn đã không mấy tích cực của xoay trục hướng Đông.

Không những thế, vị thế của Trung Quốc với tư cách là đối tác thương mại khu vực lớn khiến thái độ của nước này với các lệnh trừng phạt của phương Tây trở thành điều quan trọng đối với Nga. Nga cũng sẽ phải trả cái giá chính trị trong bối cảnh bị cô lập về kinh tế. Ảnh hưởng của Nga đối với Trung Quốc cũng sẽ suy yếu. Khi đó, Nga sẽ không thể đa dạng hoá các mối quan hệ của mình với các quốc gia khác, những nước lo sợ vi phạm các lệnh trừng phạt của phương Tây. Nga cũng không có đòn bẩy thương mại khu vực do không có khả năng trở thành một phần của chuỗi giá trị khu vực và không sẵn sàng tự do hoá ngoại thương của mình.

Nga hiện vẫn là nhà cung cấp vũ khí lớn cho khu vực, mặc dù theo đánh giá của Viện nghiên cứu hòa bình quốc tế Stockholm, xuất khẩu vũ khí của Nga sang châu Á và châu Đại Dương trong giai đoạn 2016-2020 ít hơn 36% so với giai đoạn 2011-2015. Điều này chủ yếu là do việc giảm cung cấp cho Ấn Độ, nhưng quốc gia gần đây đã quay lại mua vũ khí của Nga, bao gồm hệ thống phòng không S-400. Nga hiện là nhà cung cấp vũ khí hàng đầu cho Ấn Độ và Đông Nam Á, cũng như là nhà cung cấp vũ khí lớn thứ hai cho toàn bộ khu vực.

Kể từ năm 2014, hợp tác quân sự giữa Nga và Trung Quốc đã mở rộng, không chỉ gia tăng số lượng các cuộc tập trận chung, mà còn khiến hợp tác thương mại trong lĩnh vực quốc phòng được tăng cường (bao gồm cả việc cung cấp hệ thống S-400, máy bay Su-35, và hỗ trợ Trung Quốc thiết lập hệ thống phòng thủ tên lửa). Mặc dù Ấn Độ đã đa dạng hoá việc nhập khẩu vũ khí trong những năm gần đây, nhưng khoảng 80% thiết bị quân sự của nước này có nguồn gốc từ Nga hoặc Liên Xô.

Do mối đe doạ từ các lệnh trừng phạt và vì mối quan hệ hợp tác giữa Nga và Trung Quốc, trong bối cảnh căng thẳng ở biên giới Ấn Độ-Trung Quốc, tại Ấn Độ gần đây đã xuất hiện những lời kêu gọi giảm bớt sự phụ thuộc vào Nga. Mặc dù điều này khó có thể xảy ra trong ngắn hạn, và vẫn cần phải xem mức độ ảnh hưởng của Ấn Độ đối với Nga với tư cách là một nước nhập khẩu lớn, nhưng nếu chiến tranh kéo dài, điều này không thể không ảnh hưởng tới quan hệ Nga-Ấn.

Mặc dù trên thực tế, Nga vẫn là nhà cung cấp vũ khí hàng đầu cho Đông Nam Á, nhưng hợp tác của nước này với các tổ chức khu vực và các nước ASEAN đang phát triển chậm. Tuy Nga đang cải thiện quan hệ với các đối tác truyền thống như Việt Nam, nhưng quan hệ kinh tế và chính trị của Nga còn kém nhiều so với các cường quốc khác trong khu vực. Nga mong muốn trở thành bên tham gia độc lập trong khu vực, nhưng trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ-Trung ngày càng gia tăng, nước này ngày càng khó có thể thực hiện vai trò này.

Ngoài ra, chỉ số Quyền lực châu Á của Viện Lowy năm 2021 xếp hạng Nga là quốc gia có ảnh hưởng tầm trung ở châu Á. Mặc dù đạt điểm cao về khả năng phục hồi (sẵn có các nguồn lực và khả năng răn đe hạt nhân), khả năng quân sự và mạng lưới quốc phòng, nhưng Nga lại đạt điểm rất thấp trong quan hệ kinh tế. Nhìn chung, chỉ số này cho thấy tầm ảnh hưởng của Moskva thấp hơn mong đợi.

Sự khác biệt giữa cường quốc đứng đầu về chỉ số quyền lực châu Á (Mỹ) và thứ 5 (Nga) là rất lớn. Mỹ có tổng điểm là 82,2, trong khi Nga chỉ có 33,0 điểm. Thậm chí ngay cả trong sức mạnh quân sự, sự khác biệt về sức mạnh giữa Nga với Mỹ cũng khá lớn (91,7 so với 51,6). Điều này thể hiện rõ sự yếu kém trong chính sách khu vực của Nga, với sự hiện diện của các cường quốc như Mỹ và Trung Quốc và các cường quốc tầm trung khác như Nhật Bản, Ấn Độ và Australia.

Do đó, bất chấp những tuyên bố được nhắc đi nhắc lại về việc tập trung vào khu vực châu Á-Thái Bình Dương, Nga vẫn chưa thể thực hiện được bước xoay trục này. Sự đa dạng hoá quan hệ của Nga ở châu Á bị cản trở bởi một số yếu tố, bao gồm kinh nghiệm lịch sử và quan hệ kinh tế hạn chế, sự hiện diện của nhiều cường quốc khác và chiến lược yếu kém. Tất cả những điều này sẽ trở nên trầm trọng hơn do hậu quả kinh tế và chính trị của chiến dịch đặc biệt của Nga ở Ukraine nếu cuộc khủng hoảng này không sớm được giải quyết.

Tất cả những chi tiết này cho thấy một lỗ hổng quan trọng trong hợp tác của Nga với phương Đông: đòn bẩy ảnh hưởng truyền thống hoặc sự hiện diện địa lý của Nga không đủ để biến họ thành cường quốc khu vực mạnh mẽ. Chính sách xoay trục sang phía Đông cố gắng tìm cách giải quyết những vấn đề này, nhưng sau 10 năm, kết quả tổng thể vẫn gây thất vọng.

Mặc dù không thể phủ nhận lợi ích của Nga ở khu vực châu Á-Thái Bình Dương, nhưng nước này có mức độ ảnh hưởng khác nhau ở các quốc gia khác nhau. Tuy nhiên, có thể thấy hướng Đông lẽ ra phải là một chính sách dài hơi đối với Nga, nhưng sau 10 năm, tiến độ chậm chạp của các mục tiêu được nêu trong tuyên bố chính trị là một nguyên nhân rõ ràng gây lo ngại.

Phương Đông thay đổi và phản ứng của Nga

Khi Nga tìm cách hiện thực hoá chính sách xoay trục hướng Đông của mình thì khu vực này đang trải qua một sự chuyển dịch lớn với những tác động sâu sắc. Cạnh tranh Mỹ-Trung Quốc ngày càng quyết liệt và xác định lại châu Á-Thái Bình Dương thành Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương, chưa kể đến hợp tác giữa các quốc gia theo định dạng Bộ tứ và AUKUS, là những vấn đề mà Nga cần khẩn trương xây dựng lại chính sách của mình.

Nga phản đối ý tưởng Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và lo ngại về AUKUS, vốn cũng được thể hiện trong tuyên bố chung Trung-Nga gần đây. Nhưng đối tác chiến lược khác của Nga trong khu vực, Ấn Độ, đã nắm lấy Ấn Độ Dương-Thái Bình Dương và Bộ tứ do ngày càng lo ngại về Trung Quốc. Các cường quốc khu vực khác, như Nhật Bản và Australia, đang tích cực hợp tác với nhau và với các đối tác quan trọng của phương Tây trong bối cảnh ngày càng có nhiều lo ngại về sự trỗi dậy của Trung Quốc, đồng thời nhận thấy sự cần thiết phải “củng cố sự cân bằng ở châu Á”.

Về lý tưởng, Nga cũng sẽ được hưởng lợi từ một châu Á đa cực, nơi mà sự can dự của nước này trong khu vực sẽ không phụ thuộc vào Trung Quốc ở mức độ như vậy. Cho tới nay, Nga cố gắng duy trì và cải thiện quan hệ với các đối tác truyền thống (Ấn Độ và Việt Nam), ngay cả khi quan hệ của nước này với Trung Quốc đã đạt mức tốt nhất trong lịch sử. Nga không đứng về phía Trung Quốc trong tranh chấp lãnh thổ với các nước láng giềng và thậm chí còn ngầm giúp đưa Ấn Độ và Trung Quốc ngồi vào bàn đàm phán sau vụ đụng độ biên giới năm 2020 ở Ladakh.

Tuy nhiên, ngày càng khó để Nga có thể cân bằng theo cách này: cạnh tranh giữa Mỹ và Trung Quốc ngày càng gia tăng, và các quốc gia trong khu vực đang xem xét lại chính sách của họ. Ngoài ra, chính hành động của Nga có thể gây tổn hại cho hành động cân bằng của nước này ở châu Á, tạo điều kiện cho sự chuyển dịch theo hướng lưỡng cực, làm suy yếu ảnh hưởng của nước này đối với Trung Quốc và có khả năng tác động tiêu cực đến quan hệ với các đối tác như Ấn Độ, vốn lo ngại về mối quan hệ hợp tác chặt chẽ giữa Nga và Trung Quốc.

Nếu Nga xích lại gần Trung Quốc hơn và trở nên ít độc lập hơn so với trước đây, thì điều này sẽ gây hậu quả nghiêm trọng cho chính sách của nước này ở châu Á. Các nỗ lực của Nga để định vị mình là một bên cân bằng chứ không phải là mối đe doạ sẽ bị tấn công nếu các quốc gia trong khu vực coi Nga là đồng minh quá thân thiết của Trung Quốc và một quốc gia có ít ảnh hưởng kinh tế và chính trị.

Điều này cũng gây hậu quả đối với chính sách Đại Á-Âu, vốn cũng có nhiều vấn đề ở hướng Đông. Không có nguồn lực đáng kể nào để chi cho việc tăng cường ảnh hưởng trong khu vực ngay cả trước khi các lệnh trừng phạt được áp đặt, Nga hiện đang phải đối mặt với viễn cảnh làm suy yếu thêm vị thế của mình ở châu Á. Chính điều này cũng mâu thuẫn với các mục tiêu đã nêu của Nga là đa dạng hoá quan hệ khu vực, củng cố vị thế là một “cực độc lập” và tham gia xây dựng một trật tự khu vực mới.

Do đó, rõ ràng là bất kể cuộc khủng hoảng hiện tại được giải quyết như thế nào, bằng giải pháp ngoại giao, giải pháp quân sự hay một cuộc chiến tranh, thì nó cũng sẽ ảnh hưởng tới chính sách của Nga đối với phương Đông.

Bích Vân

Bài mới
Đọc nhiều