“Thao túng tiền tệ” nhìn từ cuộc điện đàm giữa hai nguyên thủ

18/01/2021 09:25

Trong thời gian qua, dư luận khá quan ngại việc Việt Nam bị Mỹ cáo buộc là quốc gia thao túng tiền tệ với những hệ lụy tiêu cực có thể phát sinh. Trước hết cần tìm hiểu về nguồn gốc xuất hiện khái niệm “thao túng tiền tệ”:

Khái niệm “quốc gia thao túng tiền tệ” là một sản phẩm đặc trưng độc đáo của Mỹ, được luật hóa từ rất sớm trong Luật Cạnh tranh và thương mại quốc tế Omnibus năm 1988. Theo Luật này, Bộ Tài chính Mỹ phải thực hiện báo cáo một năm hai lần về chính sách kinh tế và tỷ giá quốc tế gồm nhiều khía cạnh như thặng dư thương mại, thặng dư cán cân vãng lai, mua bán ngoại hối, chính sách tiền tệ, chính sách kiểm soát dòng vốn, hoạt động tỷ giá, tích luỹ ngoại hối… Căn cứ trên Luật này, một nước được xác định là thao túng tiền tệ sẽ không được phép tham gia vào các hợp đồng kinh tế với Chính phủ Mỹ.

Dưới thời Tổng thống Obama, Luật Xúc tiến và Thực thi Thương mại được ban hành, trong đó yêu cầu Bộ Tài chính phải thực hiện báo cáo đối với từng đối tác thương mại lớn và mở rộng các biện pháp “trừng phạt” các quốc gia được xác định là thao túng tiền tệ, ví dụ như áp dụng thuế quan và các rào cản thương mại.

Kể từ đó tới nay, Bộ Tài chính Mỹ đã thực hiện các báo cáo đều đặn dựa trên ba tiêu chí, bao gồm:

– Thặng dư thương mại hàng hóa song phương với Hoa Kỳ ít nhất 20 tỷ USD

– Thặng dư cán cân vãng lai tương đương ít nhất 2 % GDP

– Mua ròng ngoại tệ trong ít nhất 6 tháng trên giai đoạn 12 tháng với tổng lượng ngoại tệ mua ròng tương đương ít nhất 2% GDP trong giai đoạn 12 tháng. Khi một quốc gia “thỏa mãn” cả ba tiêu chí này, Mỹ sẽ gán mác “quốc gia thao túng tiền tệ” và các bước tiếp theo được tiến hành.

Ngày 16/12/2020, báo cáo định kỳ 6 tháng một lần của Bộ Tài chính Mỹ gán cho Việt Nam, cùng với Thụy Sĩ, mác “quốc gia thao túng tiền tệ”, tức cáo buộc Việt Nam đã “can thiệp không đúng cách vào thị trường ngoại hối để tạo lợi thế xuất khẩu”. Vậy điều này có đúng như cáo buộc?

Về cả lý luận và thực tiễn, ba tiêu chí do Bộ Tài chính Mỹ đưa ra không phải là căn cứ vững chắc để xác định một quốc gia có hay không thao túng tiền tệ. Xét thực tế kinh doanh và điều hành kinh tế vĩ mô của Việt Nam nhiều năm qua, có thể khẳng định: Việt Nam không thao túng tiền tệ. Nó thể hiện trên một số phương diện sau:

Thứ nhất, Việt Nam không chủ trương phá giá tiền tệ, trong cả các tuyên bố chính thức, cũng như trong chỉ đạo điều hành thực tế.

Việt Nam đang nỗ lực xây dựng một môi trường đầu tư và kinh doanh hiện đại, ổn định, minh bạch, là điểm đến của nguồn nhân lực và dòng vốn quốc tế, hiển nhiên việc Việt Nam “phá giá đồng tiền” là một điều bất hợp lý.

Những năm qua, Việt Nam thực hiện chính sách tỷ giá trung tâm trong khuôn khổ chính sách tiền tệ chung với mục tiêu nhất quán là kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, chứ không nhằm tạo lợi thế cạnh tranh thương mại quốc tế không công bằng. Việt Nam không có động lực phá giá tiền tệ nhằm lợi thế xuất khẩu, bởi xuất khẩu và xuất siêu chủ yếu do các công ty FDI ở Việt Nam là động lực và hưởng lợi chính, trong khi cộng đồng DN trong nước thường nhập siêu. Hơn nữa, Việt Nam cũng không có lợi khi phá giá đồng tiền, do đặc điểm nhập siêu nguyên liệu đầu vào và nợ công.

Thứ hai, Việt Nam không can thiệp một chiều vào thị trường ngoại hối.

Cần khẳng định, trong thời gian qua, hoạt động mua ngoại tệ của Ngân hàng Nhà nước về mặt bản chất là quá trình chuyển đổi ngoại tệ sang đơn vị Việt Nam đồng từ các nhà đầu tư, xuất khẩu và người nhận kiều hối, để bảo đảm ngoại tệ không được dùng làm phương tiện thanh toán trong nước. Hoạt động này theo đúng quy định của pháp luật Việt Nam, cũng phù hợp thông lệ tại nhiều nước khác.

Hoạt động mua bán ngoại tệ thời gian qua không nhằm định giá thấp tiền tệ mà để củng cố dự trữ ngoại hối vốn ở mức rất thấp so với các nước trong khu vực, nhằm mục tiêu tăng cường an ninh tài chính tiền tệ quốc gia, giúp củng cố mức xếp hạng tín nhiệm quốc gia.

Việc Ngân hàng Nhà nước mua ngoại tệ còn nhằm đảm bảo hoạt động thông suốt của thị trường ngoại tệ trong bối cảnh nguồn cung ngoại tệ dồi dào, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời củng cố dự trữ ngoại hối nhà nước vốn ở mức thấp so với các nước trong khu vực, cũng như so với các khuyến cáo và thông lệ chung trên thế giới về mức dự trữ ngoại hối so với chi phí cho số tuần nhập khẩu, để tăng cường an ninh tài chính tiền tệ quốc gia. Từ góc độ kiểm soát khủng hoảng, việc tăng tích trữ ngoại hối thông qua hoạt động thu mua đôla Mỹ của Việt Nam là một động thái phòng ngừa khủng hoảng điển hình trong điều hành chính sách tiền tệ của bất kỳ quốc gia nào.

Ngoài ra, thặng dư cán cân vãng lai ở Việt Nam thường chủ yếu do nhận tiền kiều hối từ nước ngoài về. Đây là những khoản tiền của người Việt Nam ở nước ngoài chuyển về để trợ cấp cho người thân trong nước. Kiều hối là yếu tố khách quan, không phải vì tỷ giá cao hay thấp. Nếu loại trừ kiều hối chuyển về hàng năm, cán cân vãng lai của Việt Nam còn thâm hụt hoặc thặng dư không lớn.

Thứ ba, thặng dư thương mại song phương với Mỹ và thặng dư cán cân vãng lai là kết quả của hàng loạt các yếu tố liên quan tới các đặc thù của nền kinh tế Việt Nam.

Trong suốt năm 2020, toàn cầu luôn bị đe doạ bởi khủng hoảng tài chính và kinh tế khi căng thẳng thương mại Mỹ – Trung luôn có dấu hiệu leo thang, nội bộ chính trị Mỹ có nhiều dấu hiệu bất ổn và dịch Covid-19 kéo dài. Việt Nam rơi vào tình huống hiện tại vì lí do khách quan như dịch Covid 19 diễn biến phức tạp trên toàn cầu và vì chính sự thành công đặc thù trong công tác thực hiện mục tiêu kép, vừa chống dịch vừa ổn định, phát triển kinh tế.

Chính vì vậy, từ góc độ kiểm soát khủng hoảng, việc tăng tích trữ ngoại hối thông qua hoạt động thu mua đô la Mỹ – đồng tiền thống trị trong dự trữ và thanh toán quốc tế – của Việt Nam là một động thái phòng ngừa khủng hoảng điển hình trong điều hành chính sách tiền tệ của bất kỳ quốc gia nào. Khi đại dịch Covid-19 nổ ra và kéo dài trong suốt năm 2020, Việt Nam đã khống chế dịch thành công. Ngoài 15 ngày đầu tháng 4/2020 buộc phải thực hiện giãn cách xã hội trên diện rộng, và một số biện pháp hạn chế nhập cảnh để khống chế sự xâm nhập của dịch bệnh từ bên ngoài, các hoạt động kinh tế nội địa của Việt Nam diễn ra gần như bình thường trong suốt cả năm. Đặc biệt, hoạt động xuất khẩu phục vụ các thị trường quốc tế, trong đó có Mỹ, vẫn không bị gián đoạn. Không chỉ thế, khi các nước cần nhập khẩu các thiết bị và hàng tiêu dùng y tế để phục vụ công tác chống dịch, ứng phó dịch, Việt Nam cũng nằm trong số ít nước có thể đáp ứng được nhu cầu.

Trong khi đó, hầu hết các nước trên thế giới, đặc biệt là những nước lớn như Hàn Quốc, Nhật Bản, các nước Châu Âu và Mỹ… đều phải không ngừng kéo dài, thậm chí là gia tăng các biện pháp giãn cách xã hội trên diện rộng, gây ảnh hưởng sâu sắc đến các hoạt động kinh tế – xã hội tại các quốc gia đó. Riêng ở Mỹ, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, hàng triệu lao động bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh. Người dân Mỹ, sống trong một xã hội chi tiêu nhiều hơn tiết kiệm, có xu thế cân đối lại chi tiêu sang những loại hàng tiêu dùng có giá cả thấp hơn mà chất lượng không bị ảnh hưởng nhiều, thường xuất xứ từ các nước đang phát triển tại châu Á – Thái Bình Dương.

Một yếu tố liên quan nữa là vấn đề căng thẳng thương mại Mỹ – Trung kéo dài từ 2018 tới nay. Khi Mỹ liên tục tăng thuế trên các mặt hàng của Trung Quốc, cùng với việc Trung Quốc là nước đầu tiên chịu ảnh hưởng nặng nề của dịch Covid 19, giá trị xuất khẩu một số mặt hàng giá rẻ của Trung Quốc sang Mỹ, bao gồm hàng điện tử, nội thất, máy móc thiết bị cơ khí, dày dép, may mặc… – những mặt hàng lợi thế của Việt Nam – sụt giảm nghiêm trọng. Trong khi đó, nhu cầu tiêu thụ các mặt hàng đó của nền kinh tế Mỹ không hề suy giảm. Với nội lực sẵn có, Việt Nam đã khai thác thành công khoảng trống trong nhu cầu tiêu dùng của người dân Mỹ để đẩy mạnh xuất khẩu, ngày càng gia tăng khả năng đáp ứng cho thị trường tiêu thụ của Mỹ trong suốt năm 2020. Thành công đó được thể hiện qua việc cán cân thương mại của Việt Nam, đặc biệt với Mỹ, nghiêng mạnh theo hướng thặng dư.

Tại cuộc điện đàm với Tổng thống Donald Trump ngày 22/12/2020, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc một lần nữa khẳng định Việt Nam là nước đang phát triển, tiềm lực kinh tế còn hạn chế, nên điều hành chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô, điều hành tỉ giá không nhằm tạo lợi thế cạnh tranh thương mại quốc tế.

Như vậy, ba tiêu chí Bộ Tài chính Mỹ đang áp dụng, không chỉ không có cơ sở lý luận, mà còn thiếu căn cứ thực tiễn để gắn mác “thao túng tiền tệ” cho Việt Nam trong giai đoạn vừa qua. Do đó, việc Bộ Tài chính Hoa Kỳ xác định Việt Nam thao túng tiền tệ là không hợp lý và bất kỳ hình thức trừng phạt nào đều không có lợi cho nhân dân và doanh nghiệp hai nước. Mặt khác có thể gây ra nhiều tác động không mong muốn, không chỉ tổn hại đến quan hệ song phương, lòng tin chiến lược và các nỗ lực thúc đẩy hợp tác giữa hai nước mà còn ảnh hưởng tiêu cực trực tiếp đến hàng ngàn doanh nghiệp và hàng triệu người lao động, người tiêu dùng ở Việt Nam và Mỹ.

Nhiệm vụ trước mắt của Việt Nam đơn giản là hiểu đúng bản chất sự việc, ổn định tâm lý nền kinh tế nội địa, củng cố niềm tin của các nhà đầu tư nước ngoài và tiếp tục tập trung cho các chiến lược phát triển kinh tế – xã hội dài hạn. Xây dựng một nước Việt Nam mạnh, độc lập, thịnh vượng có vai trò ngày càng quan trọng tại khu vực là mong muốn của người dân Việt Nam và cũng phù hợp với lợi ích của Mỹ. Mặt khác, cần phải nhận thức rõ việc Việt Nam nằm trong danh sách “thao túng tiền tệ” trong báo cáo gần đây nhất không phải là một tín hiệu kém tích cực trong quan hệ ngoại giao đang ngày càng tốt đẹp giữa Việt Nam và Hoa Kỳ, cũng như mối quan tâm của cá nhân Tổng thống Trump đối với Việt Nam. Do đó, các phán đoán, hồ nghi về các yếu tố tiềm ẩn liên quan đến mâu thuẫn chính trị có thể được loại trừ; thay vào đó, các vấn đề kỹ thuật và thuần tuý kinh tế cần được ưu tiên nghiên cứu, giải quyết.

Diệp Vấn

* Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả.

Xem nhiều

Tin liên quan

Cùng tác giả

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Video