Nguyên nhân khiến người Việt hiện nay lười lao động

28/06/2020 17:20

Sau đại dịch Covid-19 kéo dài dai dẳng từ tháng 12/2019 đến nay, kinh tế thế giới nói chung và kinh tế Việt Nam nói riêng đã bị ảnh hưởng nghiêm trọng và mất một thời gian dài để có thể hồi phục trở lại. Nhiều cơ sở sản xuất đóng cửa, nhiều nhà hàng, khách sạn phải giải thể vì không đủ nguồn lực để duy trì hoạt động kinh doanh, ngành du lịch gần như đóng băng. Cuộc sống của mọi người dân ít nhiều bị ảnh hưởng.

Bộ trưởng Đào Ngọc Dung cũng phân tích về vấn đề lao động tại Việt Nam, nước ta có khoảng 55 triệu lao động, theo pháp luật hiện hành, việc người lao động nghỉ bù hay hoán đổi tại doanh nghiệp được quyết định bởi chủ doanh nghiệp. Cùng với đó, sắp tới là ngày nghỉ 2/9 và 5/9 là khai giảng, vậy mà có người dám đề xuất nghỉ lễ kéo dài. Có phải người Việt hiện nay quá lười lao động không ? Nguyên nhân nào khiến người Việt hiện nay, nhất là những người trẻ lười lao động đến vậy ?

Chúng ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh người dân, thanh niên ngồi thư giãn, tán gẫu bên các quán café trong ngày làm việc, chưa kể các ngày nghỉ số đó tăng lên rất nhiều

Việt Nam chúng ta có sẵn những gì?

Tài nguyên đất

Việt Nam có khoảng hơn 39.000.000 ha đất tự nhiên. Trong đó, diện tích đất đã đưa vào sử dụng cho các mục đích về kinh tế – xã hội chiếm khoảng 57,04% là 18,881 triệu ha. Đất nông nghiệp chiếm 38,92% diện tích đất đang sử dụng và khoảng  22,2% diện tích đất tự nhiên. Cho đến hiện nay, đất nông nghiệp còn 14,217 triệu ha diện tích đất chưa sử dụng, tương ứng với 43,96% đất tự nhiên. Đồng nghĩa với việc, tiềm năng để khai thác đất nông nghiệp chưa được sử dụng ở Việt Nam là khá lớn để mở rộng sản xuất và cải tạo để sử dụng triệt để. Việt Nam là quốc gia có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm nhưng rất đa dạng, được phân hóa rõ rệt tự Bắc vào Nam, từ núi cao đến đồng bằng, từ Tây sang Đông.

Tài nguyên nước

Nước ta có mạng lưới sông ngòi dày đặc, có 2.345 con sông với tổng chiều dài lớn hơn 10km, mật độ trung bình 1,5 km -2km sông/ km2 diện tích đất. Tổng lượng dòng chảy phát sinh của nước ta chỉ có 317 km3, nhưng tổng lượng dòng chảy của tất cả các con sông chảy qua lãnh thổ của nước ta là 853km3. Như vậy, tỷ trọng nguồn nước từ bên ngoài chảy vào nước ta rất lớn, chiếm tới 60% so với tổng lượng nước sông trên cả nước, sông Cửu Long chiếm 90% tổng lượng nước sông.

Sông ngòi nước ta có lượng phù sa dồi dào nên nuôi dưỡng, bồi đắp rất tốt cho sinh vật phát triển. Hàm lượng phù sa của sông nước ta đạt 200 triệu tấn mỗi năm. Nước ta cũng có tiềm năng lớn trong việc phát triển thủy điện từ sông ngòi và các điều kiện khí hậu thuận lợi khác. Việt Nam có thể khai thác nguồn công suất thủy điện lớn, đạt khoảng 25.000 MW, tức là khoảng 100 tỷ kWh điện năng. Theo nhiều nghiên cứu, thực tế Việt Nam có thể khai thác thủy điện được nhiều hơn. Một số nhà máy thủy điện lớn tại Việt Nam hiện nay là nhà máy thủy điện Sơn La (nhà máy thủy điện lớn nhất khu vực Đông Nam Á) trên sông Đà, nhà máy thủy điện Hòa Bình, nhà máy thủy điện Lai Châu, nhà máy thủy điện Yaly, nhà máy thủy điện Trị An,…

Tài nguyên biển

Việt Nam có vùng biên giới phía Đông giáp biển dọc theo chiều dài đất nước, chiều dài đường bờ biển nước ta là 3260 km với vùng lãnh thổ rất rộng, 226.000km2. Trong đó, diện tích có khả năng để nuôi trồng thủy hải sản là 2 triệu ha, chiếm chủ yếu là nước ngọt 1 triệu ha, còn lại nước mặn là 0,38 triệu ha, nước lợ là 0,62 triệu ha.

Sinh vật biển của nước ta cũng vô cùng đa dạng, có 2.028 loại cá biển, hơn 100 loại cá trong đó mang lại giá trị kinh tế cao. Có 300 loài thân mềm, 650 loài rong biển, cua khoảng 300 loài, tôm 90 loài, san hô 350 loài… Trữ lượng cá biển nước ta là 3,6 triệu tấn, tầng trên mặt có khoảng 1,9 triệu tấn, tầng dưới mặt là 1,7 triệu tấn. Việt Nam cũng có 100.000ha đầm phá và 290.000 triêu lầy. Bên cạnh đó, chúng ya có 250.000ha rừng ngập mặn vô cùng đa dạng về sinh học, cùng với 40.000ha san hô ven bờ. Vườn quốc gia Xuân Thủy ở Nam Định, vườn quốc gia Cát Bà ở Hải Phòng và rừng Sác Cần Giờ ở TP. Hồ Chí Minh đều là 3 khu sinh quyển của thế giới.

Tài nguyên rừng

¾ diện tích của nước ta là đồi núi, được che phủ hơn 30% bởi rừng. Rừng có một vai trò rất quan trọng đối với sự sống của trái đất, là nơi ẩn náu của nhiều loài sinh vật, chứa nhiều tài nguyên quý báu có giá trị khai thác cao, giúp điều hòa không khí và khí hậu…

Rừng nước ta có hơn 8000 loài thực vật bậc cao, với 600 loài nấm, 800 lời rêu và 275 loài thú, ngoài ra còn có 820 loài chim, bò sát khoảng 180 loài. Sự kiện tìm ra hai loài móng guốc quan trọng là Sao La và Mang Lớn tại rừng Việt Nam đã chứng tỏ được sự phong phú của đa dạng sinh học Việt Nam.

Nước ta là nơi thường xuyên xảy ra lũ lụt, sạt lở đất, sự che phủ của rừng đã làm giảm dòng chảy sau mưa, điều hòa dòng chảy giữa mùa mưa và mùa khô và làm chậm lũ…

Tài nguyên Khoáng sản

Việt Nam cũng là một quốc gia sở hữu trữ lượng tài nguyên khoáng sản lớn và đa dạng với khoảng 60 loại khoáng sản tại 5000 điểm mỏ khác nhau. Trong suốt 40 năm thăm dò địa chất, chúng ta đã phát hiện và đưa vào khai thác sử dụng và mang lại lợi ích lớn cho đất nước.

Một số loại khoáng sản chủ yếu lại Việt Nam:

– Than: chủ yếu ở các tỉnh Quảng Ninh, Thái Nguyên, với trữ lượng khoảng 3,5 tỉ tấn ở độ sâu khoảng 300m (số liệu 1991).

– Thiếc: trữ lượng vào khoảng 129.000 tấn tập trung ở Tĩnh Túc – Cao Bằng.

– Boxit: tập trung chủ yếu ở phía Nam Việt Nam có trữ lượng vài tỉ tấn, với hàm lượng quặng là 40 – 43%.

– Sắt: trữ lượng khoảng gần 1 tỉ tấn, chủ yếu ở phía Bắc Thái Nguyên, Cao Bằng, Hà Giang và vùng ven sông Hồng.

– Đồng: đang tập trung khai thác và còn khá nhiều, trữ lượng 600.000 tấn.

– Apatit: có khoảng 1 tỉ tấn.

– Vàng: trữ lượng khoảng 100 tấn, tập trung chủ yếu ở Bồng Miêu – Bắc Lạng.

– Đá Quý: (Granat, Saphia, Rubi…) phân phối chủ yếu ở Yên Bái, Nghệ An, Thanh Hóa, vùng Đông Nam Bộ và Tây Nguyên.

– Đá vôi: lớn nhất ở Hà Tiên (18 tỉ tấn).

– Dầu mỏ: trữ lượng  ở Vịnh Bắc Bộ là 500 triệu tấn, Đồng bằng sông Cửu Long có 300 triệu tấn, Vịnh Thái Lan 300 triệu tấn, Nam Côn Sôn có 400 triệu tấn. Dầu mỏ vốn được coi là vàng lỏng trong số những tài nguyên khoáng sản vì giá trị kinh tế mang lại rất cao, và việc khai thác sử dụng dầu mỏ ở Việt Nam ngày càng được chú trọng. Từ 1991 đến 1995, Việt Nam cho sản xuất được 20 -23 triệu tấn dầu thô.

Con người Việt Nam

Hồ Chí Minh có nhiều tác phẩm nói về tính cách cũng như tâm lý của con người Việt Nam và những thói hư tật xấu của tầng lớp cán bộ, điển hình là tác phẩm ‘Sửa đổi lối làm việc’ (1947). Chủ nghĩa cá nhân chính là cha đẻ của mọi thứ khuyết điểm như sự tham lam, thói lười biếng, ba hoa, chia bè kéo phái, háo danh, ham lợi, quan liêu, hẹp hòi, ích kỷ, địa phương chủ nghĩa, lối làm việc bàn giấy, vô trách nhiệm, vô kỷ luật cùng với hàng loạt hệ lụy từ đó mà sinh ra.

Trong tác phẩm ‘Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam’, Trần Ngọc thêm cho rằng người Việt Nam chúng ta vốn tự hào và coi trọng tinh thần đoàn kết, nhưng đó là khi cả dân tộc cùng đứng trước khó khăn từ sự đe dọa của kẻ thù xâm lăng bên ngoài, sự sống và cái chết bao trùm lên cả dân tộc nhưng khi sống trong thời bình, tất cả những thói tư hữu, vì bản thân, bè phái, địa phương lại trỗi dậy. Người Việt còn ngại giao tiếp, với người quen thì thích nói, thích giao tiếp nhưng đứng trước người lạ còn ngại, còn tự ti và rụt rè cũng như chưa thực sự hiểu về tầm quan trọng của giao tiếp.

Có câu ‘Comunication is key’ nghĩa là khi làm bất cứ việc gì cũng cần đến giao tiếp, nhưng đối với người Việt chúng ta, đây còn là một trở ngại lớn. Triết lý lâu nay của chúng ta là “lắm thóc nhọc xoay”, “cầu sung vừa đủ xài”, khá là an phận và ở yên một chỗ, cũng chưa biết coi trọng thời gian, nhiều khi đi đến sự kiện hoặc cuộc hẹn lại tự hiểu là đến muộn giờ vì quen “giờ cao su”, bởi vậy nên ý chí làm giàu thấp. Nhưng khi thấy ai hơn mình, bản thân thua thiệt quá thì lại ganh ghét đố kị, hoặc cố gắng cho bằng mọi người nhưng khi bằng rồi thì lại muốn dựng lại, không cần phải quá cố gắng.

Theo Vương Trí Nhàn, người Việt cho rằng “không có cái phần hơn hẳn thiên hạ những mình lại có cái khác”, tức là tự huyễn hoặc để an ủi bản thân mà ít khi chịu nỗ lực hết mình và đặt ra mục tiêu để phấn đấu. Vì sự ‘cho rằng’, ‘cảm thấy thế’ đó mà tâm lý mang nhiều phần cảm tính, thiếu nghiên cứu, tìm hiểu tượng tận một cách xác đáng, khoa học, thiếu tính thuyết phục, rất hồn nhiên và bốc đồng, mang tính tiểu nông. Người Việt còn tùy tiện, hành xử thiếu tổ chức, ít khi biết đặt mình vào vị trí của người khác, coi mình là trung tâm, kiêu căng, ngạo mạn.

Một trong những mối nguy lớn hiện nay là người Việt tự giết người Việt. Trong làm ăn kinh tế, nhiều cá nhân, tổ chức còn bất chấp quy luật miễn là được việc, đạt hiệu quả cao nhưng những hậu quả phải trả giá thì không màng tới. Chỉ nhìn thấy cái trước mắt, ngắn hạn, ít lý trí, suy xét kỹ càng, đôi khi không màng tới đạo đức mà làm ăn sai trái. Óc hư danh, ảo tưởng, chỉ thích khen không muốn tiếp nhận lời chê, lời thẳng thắn cũng làm thui chột khả năng của con người. Hay biện minh, chống chế, quanh co cho những lỗi lầm của mình mà ít khi nhìn thẳng vào sự thật. Tất cả những thói hư tật xấu này sẽ ảnh hưởng không nhỏ đến sự phát triển vươn lên của con người Việt Nam.

Người Việt trẻ hiện nay lười lao động

Qua đây, chúng ta thấy Việt Nam được ưu đãi và ban tặng thật nhiều từ thiên nhiên, từ vị trí địa lý, địa chất đến khoáng sản, là nguồn tài nguyên phong phú. Và người Việt Nam cũng có nhiều phẩm chất tốt đẹp mà bạn bè thế giới phải công nhận, như sự thân thiện, chân chất, cởi mở, sự thông minh, ham học hỏi, nhanh nhạy, tương thân tương ái,… Những khi những ưu điểm được đặt sai chỗ, giống như mang nghề sửa chìa khóa cho một kẻ trộm sẽ gây ra những hậu quả khôn lường.

Chúng ta muốn làm những điều tốt đẹp cho bản thân mình, cho gia đình và cho xã hội, thì cần phải lao động một cách xứng đáng thay vì lười biếng và dùng thủ đoạn. Giống như phá rừng, giết động vật quý hiếm, ô nhiễm môi trường, những tác hại của nó không ngày một ngày hai mà thấy được, nhưng đến một ngày nào đó sẽ phải trả giá. Tất cả những thói hư tật xấu còn tồn tại trong mỗi con người và trong xã hội chắc chắn sẽ để lại nhiều hệ lụy trong tương lại nếu chúng ta không chịu cảnh tỉnh ngay từ bây giờ.

Năng suất lao động của người Việt hiện nay so với các nước trong khu vực Đông Nam Á rất thấp. So với một số nước như Singapore, Thái Lan, Indonesia, Việt Nam có năng suất thua họ rất nhiều. Chúng ta dễ dàng bắt gặp hình ảnh người dân, thanh niên ngồi thư giãn, tán gẫu bên các quán café trong ngày làm việc, chưa kể các ngày nghỉ số đó tăng lên rất nhiều. Tâm lý “hôm nay chưa làm thì mai làm”, “chưa làm đã tính nước nghỉ” khiến năng suất lao động hiện nay của Việt Nam thuộc diện thấp trong khu vực.

Hơn nữa, vốn sinh ra được trên một mảnh đất giàu tài nguyên, khoáng sản, khí hậu thuận lợi ít thiên tai địch họa cộng với bản tính cố hữu khiến người Việt trở nên ngày càng lười lao động. Sống trên một núi tài nguyên sẵn có chẳng khác nào được hưởng tập ấm mà xem nhẹ cách lao động bằng khối óc và bàn tay.

Han Cao

* Bài viết thể hiện văn phong và quan điểm riêng của tác giả

Từ khóa:
Xem nhiều

Tin liên quan

Cùng tác giả

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Video