Động lực quân sự bất tận của Mỹ

04/01/2021 15:48

Cơ quan Hợp tác An ninh Quốc phòng Mỹ (DSCA) đã thông báo rằng xuất khẩu vũ khí đã tăng 2,8% lên 175 tỷ USD vào năm 2020. Trong cuộc họp báo hàng năm về doanh số bán vũ khí của Mỹ, Lầu Năm Góc và Bộ Ngoại giao đã lạnh lùng mô tả sự gia tăng này là một “thành tựu”.

Cuộc khủng hoảng vĩnh viễn của chủ nghĩa tư bản

Sự tăng trưởng trong doanh số bán vũ khí được cấu trúc điều khiển bởi cuộc khủng hoảng thường trực của chủ nghĩa tư bản. Tỷ suất lợi nhuận từ các lĩnh vực sản xuất của các quốc gia tư bản hàng đầu đã giảm trong một thời gian dài. Sự suy giảm này bắt đầu từ năm 1965 và kéo dài suốt những năm 1970. Sự phục hồi một phần đã diễn ra từ năm 1982 đến năm 1997, ở mức gần 2/3 so với năm 1965. Tiếp theo là sự sụt giảm khác sau năm 1997 và sau đó là sự phục hồi khác vào năm 2006, lên bằng mức của năm 1997. Cuộc khủng hoảng năm 2008 gây sụt giảm mạnh ngay sau đó, khiến tỷ suất lợi nhuận giảm xuống khoảng một phần ba so với mức năm 1965. Sau đó, một đợt phục hồi yếu khác đã diễn ra.

Nền kinh tế của Mỹ và các nước G7 đã không thể phục hồi sau cuộc khủng hoảng tài chính năm 2008. Tình trạng trì trệ được phản ánh trong việc giảm tốc độ tăng năng suất lao động. Sự suy giảm trong tăng trưởng năng suất là do đầu tư cho sản xuất không đủ. Đầu tư không đủ bắt nguồn từ sự sụt giảm kéo dài của tỷ suất lợi nhuận, đạt đến mức được coi là không thỏa mãn đối với các nhà đầu tư tư nhân, và sự chuyển hướng nguồn lực vào các hoạt động tài chính và kiếm tiền khác.

Để vượt qua thời kỳ trì trệ dường như vô tận, chủ nghĩa tư bản ngày càng phải dùng đến chủ nghĩa quân phiệt. Chủ nghĩa quân phiệt hấp thụ thặng dư kinh tế đặc hữu chưa được hấp thụ và tình trạng dư thừa năng lực kinh niên thông qua việc sản xuất vũ khí, chiến thuật giám sát và sử dụng ngày càng nhiều công nghệ an ninh.

Tích tụ tư bản quân sự liên quan đến các kỹ thuật có tính hủy diệt cao chỉ tạo ra lãng phí xã hội. Để lấy một ví dụ, các nhà lãnh đạo toàn cầu ngày càng sử dụng chiến lược Bomb-and-Build ở nhiều khu vực khác nhau trên thế giới để phá hủy các khoản đầu tư vốn trong quá khứ vào lĩnh vực xây dựng để mở ra cơ hội tích lũy mới bằng cái gọi là “tái thiết sau chiến tranh”.

Với sự suy yếu liên tục của chủ nghĩa tư bản, việc sử dụng chủ nghĩa quân phiệt như một biện pháp cứu trợ tạm thời khỏi một cuộc khủng hoảng kinh tế kéo dài ngày càng gia tăng. Thứ nhất, doanh thu của vũ khí và dịch vụ quân sự của 25 công ty lớn nhất của Mỹ đạt 361 tỷ đô la vào năm 2019, tăng 8,5% so với năm 2018. Thứ hai, Tổng chi phí quân sự toàn cầu tăng lên 1.917 tỷ đô la vào năm 2019, tăng 3,6% so với năm 2018 và tăng trưởng chi tiêu hàng năm lớn nhất kể từ năm 2010.

Chủ nghĩa quân phiệt không có giới hạn

Với tư cách là cốt lõi đế quốc và cơ quan quản lý quốc tế của chủ nghĩa tư bản toàn cầu, Hoa Kỳ đã ở tuyến đầu của chủ nghĩa quân phiệt, cố gắng bằng cách nào đó chống lại các khuynh hướng trì trệ của chủ nghĩa tư bản hiện đại và đồng thời đạt được một số mục tiêu chính trị của nó. Năm công ty vũ khí hàng đầu trong năm 2019 đều có trụ sở tại Mỹ: Lockheed Martin, Boeing, Northrop Grumman, Raytheon và General Dynamics. Hơn nữa, Hoa Kỳ chiếm 38% chi tiêu quân sự toàn cầu trong cùng năm, với chi tiêu của nước này tăng 5,3% lên tổng cộng 732 tỷ USD.

Năm 2007, hàng chục nghìn người đã tụ tập bên ngoài Trường Lục quân Hoa Kỳ (SOA) ở Georgia, nơi huấn luyện cho binh lính Mỹ Latinh các chiến thuật chiến tranh chống nổi dậy, để phản đối sự ủng hộ của người đóng thuế đối với một số kẻ vi phạm nhân quyền tồi tệ nhất ở bán cầu. Phát biểu trước buổi họp mặt, Đại diện Dennis Kucinich khi đó nói: “Chính sách đối ngoại của chúng ta dựa trên chiến tranh; chính sách năng lượng của chúng ta dựa trên chiến tranh; chính sách nghiên cứu và phát triển của chúng ta dựa trên chiến tranh; chính sách giáo dục và xã hội của chúng ta đều dựa trên chiến tranh. Hầu như mọi thể chế trong xã hội Mỹ đều bị lây nhiễm bởi nó”.

Sự lan rộng của chủ nghĩa quân phiệt ở Mỹ là kết quả trực tiếp của sự sinh lợi của nó đối với thiểu số tinh hoa. Từ năm 2001 đến năm 2011, lợi nhuận của ngành công nghiệp quốc phòng đã tăng gấp 4 lần, khiến nó trở thành một trong những ngành có lợi nhuận cao nhất ở Mỹ. Kể từ khi chủ nghĩa quân phiệt mang lại lợi ích cho chính quyền đầu sỏ, nó đã mở rộng giống như một căn bệnh ung thư di căn trong những bộ quần áo mới – từ “liên minh các quốc gia khủng bố” của Ronald Reagan và “trục ác quỷ” của Bush II, cho đến “troika chuyên chế” của John Bolton.

Được hỗ trợ bởi một số ngụy tạo về ý thức hệ, hoạt động gây chiến của Hoa Kỳ đã trở nên toàn cầu theo nghĩa là học thuyết quân sự của họ liên quan đến “nhận thức toàn diện về lĩnh vực” và “thống trị toàn diện”. Cách tiếp cận này được đặc trưng bởi chủ nghĩa hồ nghi cao độ và chủ nghĩa can thiệp quá mức – cả hai đều dẫn đến việc hình thành một đế chế quân sự tốn kém, ngổn ngang.

Quân đội Mỹ có tầm hoạt động toàn cầu mạnh mẽ đáng kinh ngạc, triển khai gần 200.000 binh sĩ ở nước ngoài, đồn trú tại ít nhất 800 căn cứ ở 130 quốc gia và duy trì 11 lực lượng đặc nhiệm tàu sân bay tuần tra trên các vùng biển toàn cầu. Bắt đầu từ năm 2001, quốc gia này đã củng cố hơn nữa khả năng quân sự của mình, bắt đầu một loại chủ nghĩa bành trướng mới.

Theo lời khai của Tướng Raymond A.Thomas, cựu Tư lệnh Bộ Chỉ huy Chiến dịch Đặc biệt, Hoa Kỳ đang tham gia chiến tranh ở khoảng 80 đến 90 quốc gia trên thế giới. Từ năm 2001 đến năm 2016, Lầu Năm Góc đã chi 8,5 nghìn tỷ USD cho cái gọi là “cuộc chiến chống khủng bố” toàn cầu. Theo dự án “Chi phí chiến tranh” của Đại học Brown, trong giai đoạn 2001–2020, chi phí ngân sách cho các cuộc chiến tranh mà Mỹ phần lớn không đạt được các mục tiêu quân sự và chính trị của mình là 6,4 nghìn tỷ đô la.

Đối với những người Mỹ bình thường, chủ nghĩa quân phiệt tăng cường có nghĩa là sự thoái hóa của một sự tồn tại vốn đã không có những yêu cầu cơ bản. Trung bình một gia đình bốn người ở Hoa Kỳ chỉ nhận được khoảng 13.200 đô la mỗi năm từ tài sản gửi vào Lầu Năm Góc, nơi chi khoảng một nghìn tỷ đô la hàng năm từ tất cả các nguồn để tiến hành đồng thời một số cuộc chiến tranh. Hơn nữa, 260 tỷ USD chi tiêu hàng năm cho chiến tranh đã tạo ra khoảng 1,8 triệu việc làm, trong khi cùng số tiền đầu tư vào cơ sở hạ tầng có thể tạo ra 2,5 triệu việc làm. Nếu đầu tư vào y tế, nó sẽ tạo ra 3,7 triệu và gần 5 triệu nếu dồn cho giáo dục tiểu học và trung học.

Tìm kiếm cuộc chiến mới

Khi nhiệt tình tham gia vào “cuộc chiến chống khủng bố” ở Mỹ, những con diều hâu của Lầu Năm Góc cũng đã và đang tìm kiếm những cuộc chiến và leo thang mới. Các mục tiêu chính của diễn ngôn quân sự mới này là Trung Quốc và Nga. Những cuộc tấn công dữ dội bằng lời nói hiếu chiến đã được đóng gói lại thành học thuyết “chiến tranh vô cực”.

Trong một bài phát biểu năm 2018, Tướng Không quân James Michael Holmes giải thích “chiến tranh vô cực là chỉ cần không thua. Mục tiêu là luôn ở trong trò chơi và có được một kế hoạch mới để tiếp tục theo đuổi các mục tiêu của bạn”.

Trong cuốn sách “Hợp chủng quốc Hoa Kỳ”, David Vine mô tả sự phi lý hoàn toàn của việc tiến hành một cuộc tấn công của đế quốc chống lại Trung Quốc và Nga: “Cũng như cuộc chiến chống khủng bố toàn cầu đã giúp lan rộng khủng bố và mở rộng theo cấp số nhân số lượng các chiến binh sẵn sàng thực hiện các hành động khủng bố, thì việc tạo ra các căn cứ mới của Mỹ để ‘Chống lại các mối đe dọa từ Trung Quốc và Nga trong tương lai’ có nguy cơ trở thành một lời tiên tri tự ứng nghiệm: sự phổ biến các căn cứ của Mỹ ở Đông Á, cùng với các cuộc tuần tra và tập trận của hải quân và không quân, có nguy cơ tạo ra mối đe dọa quân sự ngày càng mạnh mẽ hơn từ Trung Quốc mà Mỹ được cho là đang thiết kế để chống lại. Trái ngược với tuyên bố rằng các căn cứ giúp tăng cường an ninh toàn cầu, chúng đang làm gia tăng một cuộc chạy đua vũ trang và căng thẳng quân sự trong khu vực ngay trong giai đoạn hiện tại”.

Tác giả: Yanis Iqbal

Biên dịch: Ngô Mạnh Hùng

Xem nhiều

Tin liên quan

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Video