Cái kết bi đát cho những kẻ phản quốc nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam

20/01/2021 12:09

Việt Nam là một dân tộc trải qua vô số cuộc chiến tranh chống quân xâm lược để bảo vệ Tổ quốc, điều đó đã tô đậm nét tinh thần bất khuất, dũng cảm, hy sinh tất cả để bảo vệ giang sơn lãnh thổ, những tấm gương như Trần Quốc Toản, Trần Bình Trọng, Lê Lai, Hoàng Hoa Thám,… là minh chứng cho điều đó. Tuy nhiên, trong những giai đoạn cam go của lịch sử, vẫn có những kẻ “bán nước cầu vinh”, “phản vua giết chúa”, làm tay sai cho giặc, để lại tiếng xấu muôn đời và tất cả đều có một điểm chung là kết cục bi đát, chết thảm hoặc lưu vong rồi chết nơi xứ người với nỗi nhớ quê hương. Cùng điểm qua một số nhân vật lịch sử nổi tiếng, tiếng xấu còn lưu truyền đến tận ngày hôm nay.

Lê Chiêu Thống cầu cứu nhà Thanh.

1. Mị Châu

Là một nhân vật rất nổi tiếng trong lịch sử Việt Nam. Mị Châu là con gái của vua An Dương Vương Thục Phán, người đã đánh bại quân Tần xâm lược, ép Vua Hùng nhường ngôi cho mình và khai sinh ra nước Âu Lạc trong lịch sử Việt Nam.

Câu chuyện truyền thuyết về Mị Châu gắn liền với sự tích “rải lông ngỗng dẫn đường cho Trọng Thủy”, một điển tích mà qua đó Mị Châu đã để lộ thông tin quân sự cho chồng là Trọng Thủy, dẫn đến thất bại toàn diện của Âu Lạc trước quân đội của Triệu Đà. Mị Châu được xem là một hình tượng nhân vật nữ làm hủy hoại cơ nghiệp lớn và để lại hậu quả nghiêm trọng. Tuy nhiên, nhiều ý kiến thương cảm dành cho Mị Châu vì là nạn nhân của một mưu đồ chính trị. Và cái chết của Mị Châu dưới lưỡi gươm cha tuy thật đau lòng nhưng việc nàng làm khiến đất nước rơi vào ngàn năm Bắc thuộc tăm tối thật khó tha thứ, như thần Kim Quy đã chỉ tội “giặc ở sau lưng vua đấy”.

Thế mới hay, không gì nguy hại bằng giặc trong nhà, giặc sau lưng. Một công chúa liễu yếu đào tơ như Mị Châu trong phút sai lầm đã làm chao đảo Loa Thành. Cái dũng khí đoạn tình riêng của Thục Phán, giết con đền nợ nước cũng đã muộn màng.

2. Đỗ Thích

Là một hoạn quan, giữ chức Chi Hậu Nội Nhân. Nhờ có công cõng vua Đinh trốn chạy khi bị Nam Tấn Vương truy đuổi, hắn được lòng vua và theo về triều, ngày càng củng cố địa vị. Theo chính sử, vua Đinh Tiên Hoàng phế trưởng lập thứ, chọn con út là Hạng Lang làm thái tử để kế vị. Việc này làm con trưởng là Đinh Liễn oán giận. Đầu năm 979, Đinh Liễn sai người giết Hạng Lang để tranh quyền đoạt vị. Tuy nhiên, vua Đinh không trừng phạt tội ác của Đinh Liễn mà vẫn chấp nhận Đinh Liễn lên làm thái tử, từ đó gây rối ren trong triều chính.

Đỗ Thích được ghi nhận trong là người đã ám sát vua Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn dẫn sự kết thúc cơ nghiệp nhà Đinh, mở đầu nhà Tiền Lê, cũng như gây ra cái cớ cho việc xâm lược Đại Cồ Việt bất thành của nhà Tống. Nguyên do Đỗ Thích giết vua, các tài liệu lịch sử thời phong kiến đều chép khi Đỗ Thích còn làm chức lại ở Đồng Quan, đêm nằm trên cầu, bỗng thấy sao sa rơi vào miệng, quá đỗi vui mừng khi nghĩ vận trời ứng vào mình, lại tin vào giấc mộng huyễn hoặc ấy, Đỗ Thích mưu toan giết vua và thái tử để đoạt ngôi. Sau một buổi yến tiệc trong cung đình, Đỗ Thích đã thực hiện âm mưu của mình bằng cách bỏ thuốc độc vào món canh tẩm bổ, giã rượu cho vua Đinh Tiên Hoàng và Đinh Liễn, nhà vua và thái tử ngấm phải chất kịch độc đã băng hà ngay sau đó.

Tuy nhiên, sau khi vua Đinh Tiên Hoàng và Nam Việt vương Đinh Liễn bị sát hại, triều thần đều truy lùng kẻ giết vua, Đỗ Thích phải trèo lên nằm trong máng nước ở trong cung suốt ba ngày liền chịu đói khát. Khi trời đổ mưa, Đỗ Thích thò tay hứng nước mà uống, cung nữ nhìn thấy nên đi báo. Định Quốc công Nguyễn Bặc sai người bắt xuống và đem đi chém. Theo học giả Đào Duy Anh, khi bắt được Đỗ Thích, Nguyễn Bặc cho đem chém rồi đập tan xương và cắt thịt chia cho nhân dân bắt họ phải ăn. Cũng có một số tài liệu chép rằng, sau khi bị bắt, Đỗ Thích bị nghiền nát xác rồi quăng cho thú dữ. Quả là mơ thì chẳng thấy đâu nhưng kết cục giết vua thì hiển hiện ngay trước mắt.

3. Trần Di Ái

Nhà Trần đã sản sinh ra một thế hệ anh hùng với “Hào khí Đông A” bằng việc ba lần đánh bại đội quân của đế chế mạnh nhất thế giới thời bấy giờ. Tuy nhiên, trong những giai đoạn khó khăn của cuộc kháng chiến, không thiếu những kẻ bán nước, phản vua, nối giáo cho giặc, mà Trần Di Ái là ví dụ điển hình.

Trần Di Ái là chú vua Trần Thánh Tông, đồng thời là em trai vua Trần Thái Tông. Năm 1281, vua Nguyên đòi vua Trần Nhân Tông sang chầu, vua Trần lấy cớ khước từ và cử Trần Di Ái là chú cùng Lê Tuân và Lê Mục sang thay. Hốt Tất Liệt không bằng lòng, muốn lập ngay bộ máy cai trị Đại Việt, bèn xuống chỉ lập tòa Tuyên phủ ti, đặt quan lại để sang giám trị các châu huyện. Thế nhưng khi quan nhà Nguyên đến nơi thì nhà Trần không chấp nhận và đuổi về. Vua Nguyên tức tối nhân cớ đó phong Di Ái làm An Nam quốc vương, Lê Mục làm Hàn lâm học sĩ, Lê Tuân làm Thượng thư, cho người đưa về Đại Việt kèm bức thư cho vua Trần: “Ngươi cáo bệnh không vào chầu, nay cho ngươi được nghỉ để thuốc thang điều dưỡng. Ta lập chú ngươi là Di Ái thay ngươi làm quốc vương An Nam cai quản dân chúng”.

Trần Di Ái tỏ rõ vui mừng, hy vọng dựa vào sức mạnh của quân Nguyên thì mình sẽ được làm vua, còn nếu không được thì sẽ viện lý do bị ép. Hoàng đế Nguyên Hốt Tất Liệt sai Bột Nham Thiết Mộc Nhi cùng Sài Thung đưa 1.000 quân cùng Trần Di Ái về nước. Khi Trần Di Ái đến ải Nam Quan, vua Trần Nhân Tông sai tướng đón đánh đội quân này, quân Nguyên bị đánh tan, Sài Thung bị trúng tên nên mù một mắt. Trần Di Ái bị bắt sống đưa về triều, được tha tội chết nhưng phải làm lính hầu ở phủ Thiên Trường, suốt đời không dám ngẩng mặt lên nhìn ai.

4. Trần Kiện

Nếu Trần Di Ái mưu toan dựa vào nhà Nguyên để lật vua thì Trần Kiện lại là kẻ trực tiếp dâng giang sơn cho quân giặc. Là cháu nội của vua Trấn Thái Tông, một quý tộc nhà Trần, ông thường được xem là một kẻ bán nước vì hành động đầu hàng và thông đồng với quân Nguyên. Sau này Trần Nhân Tông đổi họ của ông và tất cả những người thân thích họ Trần đã đầu hàng quân Nguyên (trừ Trần Ích Tắc) sang họ Mai.

Năm Giáp Thân 1284 (niên hiệu Chí Nguyên), ông cùng Tá Thiên Đại vương Trần Đức Việp có hiềm khích, nên giả vờ theo học đạo Lão Trang, về làng Nhân Mục ẩn cư. Trong năm đó, Thoát Hoan dẫn quân xâm lược Đại Việt, nhà Trần bị đánh thua, Toa Đô lại dẫn binh từ Chiêm Thành đánh tập hậu tạo thế gọng kìm. Chỉ huy nhà Trần tỏ ra hoảng hốt, không có kế hoạch đối phó, bèn sử dụng Trần Kiện sai đem quân chống cự với Toa Đô.

Do binh lực tại chỗ không đủ, lại không có viện binh, không rõ tin tức của vua tôi nhà Trần cho nên Trần Kiện dao động bàn với Lê Tắc rằng: “Thế tử bị Thiên tử chỉ triệu, chẳng chịu vào chầu, đến đỗi gây việc binh đao, nguy cơ sắp đến, thế mà còn chấp mê, chẳng tỉnh ngộ, nỡ để cho nhà tan nước mất hay sao?”.

Tháng Giêng năm sau (1285), Trần Kiện đem bọn Lê Tắc cùng vài vạn người, dâng binh khí xin đầu hàng. Trấn Nam vương Thoát Hoan khen ngợi và ban thưởng xiêm áo, yên cương. Sau khi quy hàng, Trần Kiện đã lập nhiều “chiến công hiển hách” cho quân đội nhà Nguyên, trực tiếp chỉ điểm cho quân Nguyên khiến quân Đại Việt bị thiệt hại nặng nề, mặt trận phía Nam bị mất hoàn toàn.

Tháng 4 năm 1285, Thoát Hoan sai quân hộ tống Trần Kiện cùng các tôn thất nhà Trần đã đầu hàng về Bắc diện kiến hoàng đế Nguyên là Hốt Tất Liệt. Thế nhưng đến ải Chi Lăng, toán quân này bị quân Đại Việt phục kích vây đánh, Trần Kiện phá vòng vây chạy lên phía trước lại bị toán dân quân đón đánh. Gia tướng của Hưng Đạo Vương là Nguyễn Địa Lô dùng tên bắn chết Trần Kiện trên lưng ngựa. Liêu thuộc của Trần Kiện là Lê Tắc cướp được xác chủ, cột lên ngựa, nhân đêm tối lẻn chạy về Khâu Ôn và chôn Trần Kiện ở đấy. Một cái kết thích đáng cho kẻ tay sai, đê hèn.

5. Trần Văn Lộng

Theo An Nam chí lược của Lê Tắc (người đầu hàng quân Nguyên), Trần Văn Lộng là con của Nhân Thành hầu Trần Duyệt và là cháu nội của Thái sư Trần Thủ Độ, được nhà Trần phong tước Chương Hoài Thượng hầu, hưởng nhiều bổng lộc. Sách Đại Việt sử ký toàn thư ghi ông được nhận tước Văn Chiêu hầu. Trần Văn Lộng là người có tính người khiêm tính ôn hòa, được vua Trần tin dùng, phong làm đại tướng cầm quân trấn thủ vùng sông Tam Đái.

Năm Giáp Thân (1284), mùa đông, đại binh của Trấn Nam Vương Thoát Hoan tràn vào Đại Việt và công phá ác liệt. Đến năm sau, (1285), Trần Văn Lộng đem gia quyến, nội phụ đầu hàng nhà Nguyên, được phong làm chức Gia Nghị đại phu, Tuyên Vũ Sứ Qui Hoá Giang Lộ, đồng thời được ban cho tiền, lụa, cung tên, yên ngựa và theo quân Nguyên tấn công Đại Việt và lập được nhiều “chiến công” thông qua việc đánh trả quân dân Đại Việt. Sau này, khi nhà Nguyên thất bại trong việc xâm chiếm Đại Việt, ông và những người đầu hàng quân Nguyên phải sống lưu vong ở Trung Quốc.

Năm 1289, vua Trần ra sắc lệnh bắt ông và đa số dòng tộc Trần (ngoại trừ Trần Ích Tắc) đầu hàng quân Nguyên phải đổi sang họ Mai.

Năm Tân Mão (1291), Trần Văn Lộng được vào triều kiến vua Nguyên và được tuyên mệnh thăng Trung đại phu, Tuyên Úy Sứ Quảng Tây đạo, cho tiền 25.000 quan, kim đoạn hai cây. Năm Bính Ngọ, Đại Đức (1306), ông bị đình chỉ cấp lương tháng mà được cho ruộng 100 khoảnh để tự cấp dưỡng. Năm Nhâm Tý, Hoàng Khánh (1312), ông lại được vào yết kiến, chuyển qua ngạch Chánh Phụng đại phu, chức như cũ. Tháng 2 năm sau (1313), Trần Văn Lộng mất nơi đấy khách với nỗi nhớ quê hương, thi hài của ông được chôn ở hồ Mã Gia đất Hán Dương Trung Quốc và được con cháu phụng thờ.

6. Trần Ích Tắc
Một hoàng tử, là con của Trần Thái Tông, em cùng cha khác mẹ với Trần Thánh Tông và Chiêu Minh đại vương Trần Quang Khải. Ngoài ra, ông cũng là chú của Trần Nhân Tông. Là hoàng thân nhà Trần nhưng Trần Ích Tắc là một người tham vọng và muốn thay thế ngôi vị của Thánh Tông và Nhân Tông. Khi nhà Nguyên xâm lược đến Đại Việt năm 1285, ông đã dẫn gia quyến xin hàng và được cải phong làm An Nam quốc vương.

Sau khi quân Nguyên Mông đại bại, Trần Ích Tắc ở lại Ngạc Châu, nay thuộc tỉnh Hồ Bắc, giữ chức quan Hồ Quảng bình chương chính sự, gia phong tới Ngân Thanh vinh lộc đại phu rồi Kim tử quang lộc đại phu, Nghi đồng tam tư và mất ở Trung Quốc vào mùa hè năm Thiên Lịch thứ 2 (1329) đời Nguyên Văn Tông, hưởng thọ 76 tuổi.

Năm Chí Thuận thứ nhất (1330), ông được nhà Nguyên truy tặng tước Trung Ý vương. Vì sự phản bội này mà sau này nhà Trần đã loại Ích Tắc ra khỏi tông thất, cho đổi tên thành Ả Trần. Việc này cũng được ghi lại trong Đại Việt Sử Ký toàn thư: “Năm 1289, tháng 5, sau khi đánh thắng quân Nguyên lần thứ ba, bắt được cả một hòm biểu xin hàng. Thượng hoàng Trần Thánh Tông sai đốt hết đi để yên lòng những kẻ phản trắc. Chỉ có kẻ nào đầu hàng trước đây, thì dẫu bản thân ở triều đình giặc, cũng kết án vắng mặt, xử tội đi đày hoặc tử hình, tịch thu điền sản, sung công, tước bỏ quốc tính. Ích Tắc là chỗ tình thân cốt nhục, tuy trị tội cũng thế, nhưng không nỡ đổi họ xóa tên, chỉ gọi là Ả Trần, có ý chê hắn hèn nhát như đàn bà vậy. Vì thế, những ghi chép đương thời đều gọi là Ả Trần…”.

7. Trần Thiêm Bình

Nhân vật chính trị cuối thời Trần tới thời Hồ trong lịch sử Việt Nam. Ông kêu gọi nhà Minh mang quân đánh nhà Hồ và cuối cùng bị nhà Hồ tiêu diệt. Về tên thật của Trần Thiêm Bình, sử sách đề cập khác nhau.

Theo Đại Việt sử ký toàn thư, Thiêm Bình có tên là Nguyễn Khang, Khâm định Việt sử thông giám cương mục thì ghi Thiêm Bình vốn có tên là Trần Khang, vốn là gia nô của Trần Tông, một thổ hào ở vùng biên cương giữa Đại Việt và Chiêm Thành. Cuối thế kỷ 14, cuộc chiến Việt – Chiêm bùng nổ ác liệt. Sau khi chiến tranh tạm lắng, nhà Trần hạ lệnh bắt trị tội nhiều thổ hào ở Nghệ An, Tân Bình, Thuận Hóa và các tướng từng theo Chiêm Thành, trong số đó có Trần Tông. Sau khi Trần Tông bị bắt, Nguyễn Khang (hay Trần Khang) đổi tên là Trần Thiêm Bình và bỏ trốn sang Ai Lao, rồi đi theo đường Vân Nam chạy sang Trung Quốc.

Đến năm 1400, nhân sự kiện Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần, lập ra nhà Hồ, Trần Thiêm Bình mạo xưng là con vua Trần Nghệ Tông, chạy sang Yên Kinh cầu viện nhà Minh xin giúp binh đánh Đại Ngu báo thù. Thiêm Bình khẩn khoản nói với Minh Thành Tổ ra quân, chỉ cần vài ngàn người có thể thắng lợi, vì đi tới đâu sẽ có người hưởng ứng.

Năm 1404, nhà Minh sai Lý Ỷ sang hỏi nhà Hồ về việc Trần Thiêm Bình. Lý Ỷ đến công quán sai người do thám tình hình Đại Ngu. Sau khi Lý Ỷ về, hoàng đế Hồ Hán Thương sai Nguyễn Cảnh Chân dâng biểu tạ tội và xin rước Trần Thiêm Bình về nước và tôn làm chúa.

Tháng 4 năm 1406, lấy cớ đưa Trần Thiêm Bình về nước, Minh Thành Tổ sai Hàn Quan và Hoàng Trung mang 5.000 quân hộ tống để lập Trần Thiêm Bình làm vua.

Ngày 8 tháng 4, Hoàng Trung đánh vào cửa Lãnh Kinh, hai cánh quân thuỷ bộ nhà Hồ đụng độ với quân Minh. Quân Đại Ngu khinh địch nên bị bại trận đầu tiên, 4 đại tướng tử trận, Hồ Nguyên Trừng suýt bị bắt sống, nhưng đúng lúc đó, tướng Hồ Vấn mang quân từ Vũ Cao (Bắc Giang) đánh úp quân Minh, Hoàng Trung không chống nổi bèn rút quân về. Song các tướng Đại Ngu là Hồ Xạ và Trần Đĩnh mang quân đóng chặn ở ải Chi Lăng.

Quân Minh bị mất đường về, buộc phải chấp nhận giao nộp Trần Thiêm Bình và sai Cao Cảnh đưa hàng thư, đề nghị mở đường cho về nước: “Quan tổng binh Hoàng sai tiểu nhân tới đây trình bày ngài biết việc này: Trước vì Thiêm Bình chạy sang triều đình tâu rằng hắn chính là con của quốc vương An Nam, vì thế mới sai đại binh sang chiêu dụ. Không ngờ trăm họ xứ này đều không phục, rõ ràng là hắn nói bậy. Nay lui quan quân về tâu với triều đình thì bị quan ải dọc đường ngăn giữ, nghẽn lối không qua được. Nay đem Thiêm Bình tới nộp, xin thả cho đi thì may lắm”.

Hồ Xạ nhận hàng thư bằng lòng nhận Thiêm Bình và mở vòng vây cho quân Minh rút lui. Trần Thiêm Bình bị quân Đại Ngu bắt mang về. Khi bị tra hỏi gốc tích quê quán thuộc tổng nào, Trần Thiêm Bình im lặng không chịu nói. Kết quả Thiêm Bình bị nhà Hồ xử tội lăng trì. Những thuộc hạ đi cùng Thiêm Bình được xá tội và đưa vào Nghệ An cho làm ruộng. Việc Trần Thiêm Bình bị giết khiến nhà Minh dùng làm cớ tiến đánh nhà Hồ.

8. Lê Chiêu Thống

Lê Chiêu Thống (1765 – 1793), tên thật là Lê Duy Khiêm, khi lên ngôi lại đổi tên là Lê Duy Kỳ, là vị hoàng đế thứ 16 và là cuối cùng của nhà Lê trung hưng. Với khẩu hiệu “phù Lê diệt Trịnh”, sau khi lật đổ họ Trịnh, anh em Tây Sơn giao lại Bắc Hà cho vua Lê vào năm 1786 rồi rút quân về Nam. Vua Lê lúc ban đầu là Lê Hiển Tông, sau khi qua đời, Lê Duy Kỳ được kế vị, hiệu là Chiêu Thống, năm ấy 21 tuổi. Nhưng Chiêu Thống không đủ uy tín và tài năng để cai quản đất nước. Bắc Hà rơi vào loạn lạc, Lê Chiêu Thống phải hết dựa vào thế lực này đến thế lực khác, từ Đinh Tích Nhưỡng đến Nguyễn Hữu Chỉnh. Khi Chỉnh bị Võ Văn Nhậm diệt, Lê Chiêu Thống bỏ chạy sang Quảng Tây, Trung Quốc, cầu cứu nhà Thanh.

Nhân cơ hội ấy, quân Thanh do Tổng đốc Lưỡng Quảng là Tôn Sỹ Nghị cầm đầu kéo sang. Ngay khi vào Thăng Long, chúng đã chẳng coi Lê Chiêu Thống ra gì, vua ta phải hằng ngày vào chực ở bản doanh của Tôn Sỹ Nghị để nghe lời sai bảo. Tuy vua Lê đã được phong Vương, nhưng giấy tờ đưa đi các nơi, đều dùng niên hiệu Càn Long. Ngày ngày sau buổi chầu, vua lại tới chờ ở doanh của Nghị để nghe truyền việc quân, việc nước. Vua cưỡi ngựa đi trước, Lê Quýnh cưỡi ngựa đi sau, quân lính hộ vệ chỉ vài chục người.

Người trong kinh có kẻ không biết là vua hoặc có người biết thì họ nói riêng với nhau rằng: “Nước Nam ta từ khi có đế, có vương tới nay, chưa thấy bao giờ có ông vua luồn cúi đê hèn như thế. Tiếng là làm vua, nhưng niên hiệu thì viết là Càn Long, việc gì cũng do viên tổng đốc, có khác gì phụ thuộc vào Đại Thanh?”.

Có hôm, vua tới yết kiến, Nghị không buồn tiếp, chỉ cho người đứng ở dưới linh các truyền bảo: “Hôm nay không có việc quân, việc nước gì, hãy về cung yên nghỉ!” (Hoàng Lê Nhất Thống Chí). Đối với quân lính và người Hoa ở Việt Nam, thì y lại dung túng cho chúng mặc sức làm điều phi pháp.

Vua Lê tuy biết sự tệ hại ấy, nhưng đã trót mời quân Thanh sang, chỉ sợ vì việc đó mà làm mất lòng chúng nên không dám nói gì. Hoàng đế Quang Trung với chiến lược thần tốc, táo bạo đã đánh bại 29 vạn quân Thanh. Lê Chiêu Thống cùng gia quyến và các bề tôi trung thành lại chạy theo sang Trung Quốc, hy vọng cầu viện nhà Thanh một lần nữa. Nhưng lúc này, tình hình đã khác. Quân Thanh sau những trận Ngọc Hồi, Đống Đa,… đã trở nên khiếp sợ vua Quang Trung và quân Tây Sơn, vả lại triều đình nhà Thanh cũng không muốn có thêm cuộc chiến tranh tốn kém nào nữa, nên vua Càn Long cũng đình chỉ luôn việc xâm lược Đại Việt và quan hệ hoà hiếu với triều đình mới là Tây Sơn.

Tuy lưu vong ở Trung Quốc như Lê Chiêu Thống vẫn không nguôi “giấc mộng phục quốc”, nhưng như đã nói ở trên, nhà Thanh, phần sợ Quang Trung, phần vua Thanh đã già ngán ngẩm việc chinh chiến, chỉ hứa hão với Chiêu Thống mà không cho quân. Thân vương nhà Thanh là Phúc Khang An hứa giúp quân cho Lê Chiêu Thống, nhưng lại tâu với vua Thanh Càn Long rằng Chiêu Thống không còn muốn trở về. Tháng 4 năm đó, theo lời tâu của Hòa Thân và Phúc Khang An, Càn Long phong Nguyễn Huệ là An Nam quốc vương và nhận tiếp sứ của nhà Tây Sơn. Sách có ghi: “Nhà vua căm giận vì bị người Thanh lừa gạt, bèn cùng các bầy tôi là bọn Phạm Như Tùng, Hoàng Ích Hiểu, Lê Hân, Nguyễn Quốc Đống, Nguyễn Viết Triệu, Lê Quý Thích, Nguyễn Đình Miên, Lê Văn Trương, Lê Tùng và Lê Thức mười người uống máu ăn thề, làm bài biểu định đưa lên vua Thanh để xin quân cứu viện, nếu không được thì xin được đất hai châu Tuyên Quang và Thái Nguyên để quay về giữ việc thờ cúng tổ tiên hay là cùng nhau lén về Gia Định, nương nhờ triều triều Nguyễn để dần dà toan tính việc khôi phục, chứ quyết không chịu sống thừa ở đất Bắc”.

Tháng 5 năm Nhâm Tý, tức năm Càn Long thứ 57 (1792), con trai chết, Lê Chiêu Thống thất vọng và chán nản, lâm bệnh rồi qua đời ngày 16/10 (âm lịch) năm 1793 ôm theo “giấc mộng phục quốc” xuống mồ tại Yên Kinh. Nhà Thanh chôn ông theo nghi thức tước công.

Năm 1802, sau khi Nguyễn Ánh lên ngôi Hoàng đế, mở đầu thời kỳ nhà Nguyễn, đã cho sứ giả sang thông hiếu và quy phục nhà Thanh. Nhân đó các bầy tôi cũ nhà Hậu Lê dâng biểu xin trở về nước nhà. Năm 1804, vua Gia Khánh nhà Thanh cho phép đưa linh cữu vua Lê, Thái hậu và con trai Lê Chiêu Thống về nước. Tháng 11 cùng năm, an táng nhà vua ở lăng Bàn Thạch nay là xã Xuân Quang, huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hoá.

Tại Thái miếu nhà Hậu Lê, bàn thờ và bài vị vua Lê Chiêu Thống nằm khép nép một góc khuất, âu cũng là cái kết của một trong những vị vua hèn hạ và thất bại nhất lịch sử Việt Nam.

TH 

Xem nhiều

Tin liên quan

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Video