Ba cấp độ của bí mật nhà nước

[email protected]

01/07/2020 09:43

Từ 1/7, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước 2018 bắt đầu có hiệu lực, thay thế Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước.

Ngày 15/11/2018 Quốc Hội đã kí ban hành Luật Bảo vệ bí mật nhà nước (BMNN) để thay thế cho Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2000, văn bản này đã nâng tầm pháp lý về công tác Bảo vệ bí mật nhà nước ở nước ta trong giai đoạn hiện nay. Luật này sẽ có hiệu lực vào ngày 01/7/2020. Xin giới thiệu đến bạn đọc một số điểm mới cơ bản của Luật Bảo vệ bí mật nhà nước 2018 so với Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2000.

        1. Về tên gọi Luật bảo vệ bí mật nhà nước
Quốc Hội đã nâng tầm pháp lý của công tác Bảo vệ bí mật nhà nước được quy định trong Luật và do Quốc hội ban hành thay thế cho Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước năm 2000. Mục đích chính là để khẳng định tầm quan trọng của bảo vệ bí mật nhà nước, đồng thời phù hợp với Hiến pháp năm 2013 về việc quy định quyền con người, quyền công dân phải bằng luật.
        2. Về bố cục văn bản
Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước có 5 chương 22 điều. Trên cơ sở kế thừa và luật hóa những quy định còn phù hợp; sửa đổi, bổ sung những quy định còn thiếu, chưa bảo đảm khả thi của Pháp lệnh và các văn bản hướng dẫn, Luật Bí mật nhà nước năm 2018 có 5 chương với 28 điều.
        3. Về khái niệm bí mật nhà nước
Luật Bảo vệ bí mật nhà nước nước 2018 đã xác định lại khái niệm bí mật nhà nước theo hướng khái quát, nhưng đảm bảo chặt chẽ, đáp ứng tính ổn định của Luật, cụ thể:
        Bí mật nhà nước là thông tin có nội dung quan trọng do người đứng đầu cơ quan, tổ chức có thẩm quyền xác định căn cứ vào quy định của Luật này, chưa công khai, nếu bị lộ, bị mất có thể gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc. Hình thức chứa bí mật nhà nước bao gồm tài liệu, vật, địa điểm, lời nói, hoạt động hoặc các dạng khác.
Đây là cơ sở để phân biệt giữa bí mật nhà nước với các loại bí mật khác, như bí mật công tác, bí mật đời sống riêng tư, bí mật gia đình…
        4. Điểm mới trong nguyên tắc bảo vệ bí mật nhà nước
– Luật Bảo vệ BMNN thay cụm từ “công dân” thành cụm từ “cá nhân” trong trách nhiệm bảo vệ bí mật nhà nước, điều này đồng nghĩa không chỉ công dân Việt Nam mà tất cả cá nhân người nước ngoài, người không quốc tịch sống trên lãnh thổ Việt Nam cũng phải có trách nhiệm trong bảo vệ bí mật nhà nước.
– Luật cũng bổ sung quy định về hợp tác quốc tế về bảo vệ bí mật nhà nước.
        5. Bổ sung thêm các hành vi bị nghiêm cấm trong bảo vệ bí mật nhà nước
– Pháp lệnh Bảo vệ BMNN quy định 7 hành vi bị nghiêm cấm trong bảo vệ bí mật nhà nước như: hành vi thu thập, làm lộ, làm mất, chiếm đoạt, mua bán, tiêu huỷ trái phép bí mật nhà nước và việc lạm dụng bảo vệ bí mật nhà nước để che dấu hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân hoặc làm cản trở việc thực hiện các kế hoạch nhà nước.
– Luật Bảo vệ BMNN quy định 9 nhóm hành vi và đã cụ thể, rõ ràng từng hành vi bị nghiêm cấm trong bảo vệ bí mật nhà nước, và có nhiều hành vi mới quy định cho phù hợp với thực tiễn như: Soạn thảo, lưu giữ tài liệu có chứa nội dung bí mật nhà nước trên máy tính hoặc thiết bị khác đã kết nối hoặc đang kết nối với mạng Internet, mạng máy tính, mạng viễn thông, trừ trường hợp lưu giữ bí mật nhà nước theo quy định của pháp luật về cơ yếu.
        + Chuyển mục đích sử dụng máy tính, thiết bị khác đã dùng để soạn thảo, lưu giữ, trao đổi bí mật nhà nước khi chưa loại bỏ bí mật nhà nước.
+ Sử dụng thiết bị có tính năng thu, phát tín hiệu, ghi âm, ghi hình trong hội nghị, hội thảo, cuộc họp có nội dung bí mật nhà nước dưới mọi hình thức khi chưa được người có thẩm quyền cho phép.
+ Đăng tải, phát tán bí mật nhà nước trên phương tiện thông tin đại chúng, mạng Internet, mạng máy tính và mạng viễn thông.
        6. Phạm vi bí mật nhà nước được mở rộng hơn
Theo quy định của Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước, việc xác định và lập danh mục bí mật nhà nước căn cứ vào phạm vi bí mật nhà nước. Tuy nhiên, qua thực tiễn áp dụng, việc xác định “khung” cấp độ mật gây khó khăn, bất cập trong xây dựng danh mục bí mật nhà nước do các “khung” đó chưa đáp ứng yêu cầu công tác bảo vệ bí mật nhà nước trong từng giai đoạn. Khắc phục nhược điểm trên, Luật Bảo vệ bí mật nhà nước quy định phạm vi bí mật nhà nước theo hướng khái quát, chia thành 15 nhóm phạm vi (không chia phạm vi bí mật nhà nước theo từng cấp độ mật như Pháp lệnh). Căn cứ vào phạm vi bí mật nhà nước và tiêu chí xác định độ mật, cơ quan, tổ chức ở trung ương và địa phương xác định và lập danh mục bí mật nhà nước của cơ quan, tổ chức mình trình cấp có thẩm quyền quyết định.
        7. Về thẩm quyền quyết định danh mục bí mật nhà nước
Theo Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước thì danh mục bí mật nhà nước ở mức độ Tối mật, Tuyệt mật do Chính phủ quyết định, còn danh mục bí mật nhà nước ở mức độ Mật do người đứng đầu hoặc người được uỷ quyền của cơ quan, tổ chức đề nghị Bộ trưởng Bộ Công an quyết định.
Luật Bảo vệ BMNN quy định Thẩm quyền quyết định danh mục bí mật nhà nước được sửa đổi theo hướng: Thủ tướng Chính phủ quyết định danh mục bí mật nhà nước của các cơ quan, tổ chức ở trung ương và địa phương đối với cả 3 cấp độ mật để bảo đảm sự tập trung, thống nhất về chủ thể ban hành danh mục bí mật nhà nước; kịp thời, đồng bộ trong triển khai thực hiện.
        8. Quy định rõ hơn thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước; gia hạn thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước
Pháp lệnh Bảo vệ bí mật nhà nước không quy định về thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước nên cá nhân, tổ chức không có điều kiện tiếp cận thông tin. Thực hiện chủ trương của Đảng về công khai, minh bạch hóa thông tin; tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về bảo vệ bí mật nhà nước, tạo điều kiện để công dân thực hiện các quyền cơ bản theo quy định của Hiến pháp năm 2013, Luật quy định cụ thể thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước (Tuyệt mật: 30 năm; Tối mật: 20 năm; Mật: 10 năm). Thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước được gia hạn nếu việc giải mật gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.
        9. Luật Bảo vệ BMNN quy định thêm về giải mật
Luật quy định cụ thể thế nào là giải mật và các trường hợp bí mật nhà nước được giải mã, mở rộng thẩm quyền cho phép tiêu hủy bí mật nhà nước đối với trường hợp bí mật nhà nước không cần thiết phải lưu giữ và việc tiêu hủy không gây nguy hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc.
        10. Quy định thêm về đương nhiên giải mật
Bí mật nhà nước được giải mật toàn bộ hoặc một phần trong trường hợp sau đây:
– Hết thời hạn bảo vệ bí mật nhà nước quy định tại Điều 19 của Luật này và thời gian gia hạn quy định tại Điều 20 của Luật này;
– Đáp ứng yêu cầu thực tiễn bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; phát triển kinh tế – xã hội; hội nhập, hợp tác quốc tế;
        11. Quy định bắt buộc đóng dấu giải mật
Trường hợp không còn thuộc danh mục bí mật nhà nước, cơ quan, tổ chức xác định bí mật nhà nước phải đóng dấu, có văn bản hoặc hình thức khác xác định việc giải mật và thông báo ngay bằng văn bản đến cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan.

Thành Nhân

Xem nhiều

Tin liên quan

Cùng tác giả

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Video