33 năm sau nhiệm vụ cảm tử

14/03/2021 16:00

Những cán bộ, chiến sĩ tham gia trận chiến đấu 14/3/1988 bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc trên Biển Đông, đến giờ vẫn nhớ: 2 ngày sau đó, chiều 16/3/1988, máy bay vận tải AH-26 của không quân Việt Nam lao qua đội hình tàu chiến đấu Trung Quốc đang vây quanh đảo Sinh Tồn, thả hàng tiếp tế cho bộ đội đảo. Nhờ đó, rất nhiều thương binh đã được cứu sống nhờ những chai huyết thanh, thuốc y tế,… được thả xuống. Và người chỉ huy tổ bay, lái chính chuyến bay hôm ấy là đại úy Nguyễn Anh Sơn, Phó phi đội trưởng chính trị (nay là chính trị viên) Phi đội 2, Trung đoàn Không quân 918 (nay là Lữ đoàn 918), Quân chủng Phòng không – Không quân. Phi công Nguyễn Anh Sơn nghỉ hưu năm 2016 với quân hàm đại tá và năm nay 64 tuổi, đang sống tại TP.HCM.

Đại úy – cơ trưởng Nguyễn Anh Sơn trước giờ bay ra Trường Sa làm nhiệm vụ, năm 1988.

Thả thuốc, cứu thương binh

Đại tá Nguyễn Anh Sơn nhớ lại: “Trưa 14/3/1988, chúng tôi đã biết ngoài Trường Sa xảy ra chiến sự, bởi tổ bay vận tải trinh sát thường kỳ của cơ trưởng Mai Chí Lưu bay qua vùng biển Gạc Ma – Cô Lin – Len Đao phát hiện thấy tàu bốc cháy. Chiều hôm ấy, tổ bay do anh Vũ Ngọc Rự làm cơ trưởng đã sẵn sàng chở áo phao, phao cứu sinh ra rải xuống vùng biển khu vực Sinh Tồn, nhưng sau đó bên hải quân nói hủy nhiệm vụ”.

Trưa 16/3/1988, tổ bay AH-26 gồm 5 người (lái chính là đại úy Nguyễn Anh Sơn, Phó phi đội trưởng phụ trách chính trị của Phi đội 2; lái phụ Nguyễn Đình Minh; dẫn đường Nguyễn Tri Thiên; thông tin trên không Nghiêm Đình Sỹ; cơ giới trên không Nguyễn Văn Sỹ) bay từ Tân Sơn Nhất ra sân bay Cam Ranh (Khánh Hòa) để nhận 5 kiện gỗ thông (1 m3/kiện), trong có các chai huyết thanh và thuốc men được chèn trong quần áo, thả xuống đảo Sinh Tồn đang tập trung thương binh, bộ đội tham gia trận đánh 14/3/1988.

Chỉ huy Trung đoàn 918 đón tổ bay AH-26 hoàn thành nhiệm vụ thả hàng tiếp tế tại Trường Sa năm 1988.

Nhận nhiệm vụ, anh Sơn đề nghị cho thả hàng ở độ cao dưới 50 m, trên mặt nước giáp bờ đảo để giảm thiểu việc dập vỡ, hư hỏng cho thuốc y tế. Trung tá Nguyễn Chí Cự (khi đó là Phó trung đoàn trưởng 918) gật đầu: “Tùy tình hình mà giảm, đừng thấp quá”. Theo giáo trình huấn luyện chiến đấu của AH-26, độ cao thấp nhất để bay thả hàng không dù, chỉ là 50 m.

Xếp hàng xong, 2 sĩ quan hải quân mở bản đồ tác chiến thông báo tình hình chiến sự, vị trí ta và tàu Trung Quốc. Nếu bay vòng tránh sẽ không đủ nhiên liệu (xếp hàng trên băng tải nên không thể lắp thùng dầu phụ), anh Sơn quyết định bay xuyên qua đội hình địch ở khoảng cách tối đa có thể, cho dù nguy hiểm. “Tôi mời 2 người lên máy bay nhưng họ nói là… hậu cần”, đại tá Sơn cười và lắc đầu: “Về nguyên tắc, tôi có quyền không cất cánh. Trời chiều, chậm vài chục phút sẽ không hoàn thành nhiệm vụ, trong khi đồng đội đang chờ. Tôi hội ý nhanh với tổ bay và quyết định cất cánh, không cần tác chiến đi cùng”.

Xuyên qua đội hình tàu địch

Bay từ Cam Ranh ra đảo Sinh Tồn khoảng 600 km, vật chuẩn duy nhất có thể quan sát bằng radar là đảo Đá Lớn. Ra khỏi bờ 200 km là mất liên lạc, phải dựa vào hướng bay, tốc độ, thời gian. Bay hết thời gian dự kiến không thấy Đá Lớn, đại úy Nguyễn Anh Sơn bay thêm 10 phút (khoảng 70 km nữa). Vẫn không thấy Đá Lớn, trong khi dầu gần cạn. Vừa định vòng phải bay về thì sĩ quan dẫn đường Nguyễn Tri Thiên hét lên: “Đã thấy”. Máy bay giảm độ cao đến 200 m tìm đảo. Vừa thấy Sinh Tồn, cũng là lúc lái phụ Nguyễn Đình Minh hét lên: “Có tàu phía trước”. Trước mắt là chiếc tàu chiến của Trung Quốc dài cả trăm mét, lá cờ 5 sao trên đỉnh như sắp quệt vào máy bay. “Tích tắc tôi nghĩ: Theo lý thuyết xạ kích, ở góc tà lớn khó bị bắn nhất. Tôi điều khiển bay thẳng, đến đâu thì đến, bị bắn cũng phải chịu. Cuối cùng cũng ổn, không có súng nổ. Chẳng biết tại sao”, đại tá Sơn nhớ lại.

Theo hiệp đồng, hàng sẽ được thả dọc bờ nam nhưng không được thả vào đảo (vì trên đảo nhiều người và hàng hóa sẽ bị hư hại) và cũng không quá xa bờ để dễ vớt. Nhưng sau khi bay qua đội hình tàu Trung Quốc, cơ hội thả ở bờ nam đã lỡ, tổ bay quyết định vòng lại bờ bắc và xuống sát mặt nước thả hàng, để không vỡ những chai huyết thanh. Sau khi đã “đối chuẩn”, máy bay giảm độ cao xuống dưới 50 m và mở cửa. Nghiêm Đình Sỹ xuống buồng hàng hỗ trợ thả bằng tay nếu băng tải trục trặc. Cách mặt biển khoảng 2 m, Nguyễn Đình Minh hét: “Đồng hồ độ cao không mét”. Khi đã thấp hơn ngọn cây trên đảo, đại úy Sơn lệnh thả hàng. Lúc ấy, anh Nghiêm Đình Sỹ đứng ở cửa, rất nguy hiểm nhưng cũng rất cần thiết để thả hàng, hạn chế sự cố hàng hóa.

Đừng quên những người anh hùng

Hạ cánh ở Tân Sơn Nhất khi trời đã tối đen. Trung đoàn phó Nguyễn Chí Cự ra đón tổ bay vừa làm nhiệm vụ cảm tử trở về, hỏi: “Có thả nhầm đảo không đấy?”. Đại úy Sơn khi ấy cương quyết: “Không! Tuần trước tôi còn bay ra đấy thả hàng”. Gần 10 giờ đêm, Trung đoàn phó Cự lại hỏi: “Cậu có nhầm đảo không? Sao chưa thấy hải quân báo lại?”. Sáng hôm sau, anh Cự xuống gặp sớm, cười: “Hải quân nhận được hàng rồi. Thuốc mình thả rất kịp thời, giúp trạm phẫu cứu sống hàng chục thương binh”.

Đại tá Nguyễn Anh Sơn cho biết thêm: “Trước và sau 14/3/1988, chúng tôi liên tục bay biển. AH-26 bay biển phải chế thêm thùng dầu phụ trong khoang để kéo dài thời gian bay. Hồi ấy bay nhiều nhất là chiếc AH-26 mang số hiệu 262 và trước khi làm nhiệm vụ, tổ bay được trang bị từ súng K59, AK-47 cho đến dao cắt dây dù cá nhân phòng trường hợp gặp nạn, sẽ chiến đấu đến cùng, không để đối phương bắt làm tù binh. Bay Trường Sa rất căng thẳng, đã không có liên lạc dẫn đường, xác suất bị lạc, hết dầu và bị đối phương bắn hạ rất cao. Mỗi lần bay Trường Sa, anh em đều xác định có thể hy sinh nhưng tuyệt nhiên không ai thoái thác nhiệm vụ”.

Mai Thanh Hải 

Xem nhiều

Tin liên quan

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Video