Ứng phó với một Trung Quốc biến động

27/11/2015 09:41

Động thái bất ngờ phá giá đồng nhân dân tệ của Trung Quốc hồi tháng 8-2015 đã khiến một doanh nghiệp chuyên xuất khẩu cao su, hồ tiêu như Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu Petrolimex (Pitco) bị thiệt hại nặng nề.

Nguồn cung hàng hóa dư thừa trong khi nhu cầu nội địa giảm sẽ tạo làn sóng đẩy hàng hóa Trung Quốc sang các nước Đông Nam Á với giá không ai cạnh tranh được. Trong ảnh: Hàng Trung Quốc tại một hội chợ ở TPHCM. Ảnh: UYÊN VIỄN
Nguồn cung hàng hóa dư thừa trong khi nhu cầu nội địa giảm sẽ tạo làn sóng đẩy hàng hóa Trung Quốc sang các nước Đông Nam Á với giá không ai cạnh tranh được. Trong ảnh: Hàng Trung Quốc tại một hội chợ ở TPHCM. Ảnh: UYÊN VIỄN

Đơn hàng tuy không giảm nhiều nhưng giá hàng hóa giảm không nhỏ. Đau nhất là với “cú đòn” điều chỉnh tỷ giá giữa tiền đồng và đô la Mỹ, doanh nghiệp phải bù lỗ hàng tỉ đồng cho phần chênh lệch tỷ giá phát sinh khiến lợi nhuận âm.

Cú sốc mang tên tỷ giá trong năm 2015

Chỉ tính trong quí 3-2015, báo cáo tài chính của Pitco (mẹ) đã ghi nhận khoản lỗ hơn 8,8 tỉ đồng khi doanh thu thuần về bán hàng và cung cấp dịch vụ giảm 12% so với cùng kỳ năm ngoái. Ông Hà Huy Thắng, Tổng giám đốc Pitco, chia sẻ số lỗ này phát sinh chủ yếu do chênh lệch tỷ giá giữa đô la Mỹ và tiền đồng. Từ giữa năm 2014, Pitco chọn vay vốn bằng đô la Mỹ nhằm tận dụng lãi suất rẻ hơn nhiều so với vay tiền đồng. “Chúng tôi cũng rất thận trọng về vấn đề tỷ giá nhưng từ đầu năm Ngân hàng Nhà nước luôn nhấn mạnh tỷ giá trong năm sẽ chỉ biến động 2%. Không ngờ Trung Quốc phá giá nhân dân tệ, Ngân hàng Nhà nước nhanh chóng điều chỉnh tỷ giá tiền đồng (so với đô la Mỹ) nên doanh nghiệp ngay lập tức lãnh đủ”, ông Thắng nói.

Ông Thắng đã mang mối lo lắng của doanh nghiệp mình về tình hình kinh tế Trung Quốc đến tham vấn các chuyên gia về Trung Quốc tại buổi tọa đàm với chủ đề: “Trung Quốc năm 2015, nhìn về 2016 và tác động đến Việt Nam” diễn ra hôm 20-11-2015 do Thời báo Kinh tế Sài Gòn phối hợp với Trung tâm Nghiên cứu quốc tế (SCIS), trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TPHCM tổ chức. Ông muốn nhờ các chuyên gia dự báo những khó khăn trên sẽ kéo dài trong bao lâu nữa, đến khi nào thì mọi thứ có thể ổn định trở lại dù khái niệm ổn định chỉ dám được xác định là không điều chỉnh mạnh (tỷ giá) như thời gian vừa qua. Bản thân doanh nghiệp gặp rất nhiều khó khăn trong việc đề ra biện pháp ứng phó bởi không có đủ thông tin để có thể dự báo.

Doanh nghiệp Việt vẫn khó ít nhất trong 2-3 năm nữa

TS. Phạm Sỹ Thành, Giám đốc Chương trình Nghiên cứu kinh tế Trung Quốc thuộc VEPR (VCES), Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, cho rằng trong 2-3 năm tới, doanh nghiệp Việt Nam làm ăn với thị trường Trung Quốc có thể sẽ vẫn còn khó khăn vì nền kinh tế Trung Quốc đang ở xu thế giảm. Chính phủ Trung Quốc có chính sách đẩy doanh nghiệp và sản lượng hàng hóa dư thừa ra bên ngoài. Doanh nghiệp Việt Nam sẽ chịu nhiều áp lực khi đối đầu trực diện. “Khi nền kinh tế Trung Quốc tăng trưởng chậm lại, nhu cầu thấp sẽ khiến giá các hàng hóa cơ bản của thế giới giảm mạnh. Các doanh nghiệp xuất khẩu các loại hàng hóa mang tính tài nguyên, các hàng nông sản, các hàng sơ chế (phổ biến ở Việt Nam) có thể phải đối diện với khó khăn kép: lượng xuất khẩu sang Trung Quốc giảm, giá trị xuất khẩu giảm (do giá chung của thế giới giảm)”, ông Thành nhận định.

Không chỉ vậy, theo ông Thành, một Trung Quốc dư thừa nguồn cung trong khi cầu nội địa giảm cũng sẽ tạo ra làn sóng đẩy hàng sang các quốc gia Đông Nam Á với giá không ai cạnh tranh được (phá giá). Hàng Trung Quốc sẽ càng tràn ngập ở thị trường Việt Nam và cạnh tranh với hàng sản xuất trong nước.

Còn xét riêng ở góc độ chuỗi sản xuất thì những dịch chuyển của Trung Quốc với những nhà máy đang dư thừa công suất và sản lượng sang Việt Nam một mặt có thể giúp Việt Nam có cơ hội tham gia chuỗi cung ứng toàn cầu (các hợp đồng gia công, cung cấp hàng hóa cho các tập đoàn lớn) nhưng mặt khác tạo ra áp lực cạnh tranh ghê gớm, nhất là khi Việt Nam đã tham gia Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP) và đang nỗ lực tận dụng những lợi thế mà TPP mang lại.

Đặc biệt, trong xu hướng “đẩy” doanh nghiệp trong nước ra nước ngoài theo sau những dự án đầu tư cơ sở hạ tầng, lao động Trung Quốc sẽ tiếp tục có mặt ở các quốc gia Đông Nam Á, trong đó có Việt Nam, làm giảm cơ hội việc làm của lao động bản địa. Quan trọng hơn, Chính phủ Trung Quốc đang có xu hướng gia tăng bảo vệ người Trung Quốc ở nước ngoài nên nếu có vấn đề gì với người lao động Trung Quốc thì chính quyền các địa phương vốn đang có nhiều lao động Trung Quốc như Đà Nẵng, Hà Tĩnh sẽ chịu những sức ép rất lớn. Tình hình Malaysia gần đây là một chỉ dấu cho các quốc gia khác về chính sách của Trung Quốc đối với công dân của họ ở nước ngoài.

Nguy cơ từ đòn bẩy cơ sở hạ tầng của Trung Quốc

Theo một kết quả nghiên cứu chung giữa VCES và SCIS, ông Trương Minh Huy Vũ, Giám đốc SCIS, chia sẻ Trung Quốc đang rất nỗ lực kết nối với khu vực Đông Nam Á (được chia thành khu vực lục địa với các nước gồm Lào, Campuchia, Thái Lan, Myanmar và khu vực hải đảo với Malaysia, Singapore, Indonesia, Philippines). Việc kết nối với khu vực Đông Nam Á lục địa ngày càng có những dấu hiệu rõ ràng với hàng loạt dự án đầu tư về đường sá, cầu và cảng biển tại Thái Lan, Campuchia, Lào… Mục tiêu cuối cùng là để chuyển hàng Trung Quốc đi khắp nơi.

Theo ông Vũ, điều này rất nguy hiểm cho nền kinh tế Việt Nam. Bởi lẽ, hệ thống cơ sở hạ tầng của Việt Nam ở mức tương đối phát triển và nhận được nhiều đầu tư nhưng tồn tại bất cập là đi theo đường chữ Y, chạy theo trục Bắc – Nam nhưng khó khăn khi vượt dãy Trường Sơn để kết nối Lào, Thái Lan, Campuchia. Hệ thống giao thông đường bộ quốc tế của Việt Nam hiện đang yếu hơn Thái Lan và tương lai sẽ yếu hơn cả Lào, Campuchia và Myanmar. Trong khi đó, hệ thống cảng biển với 20 cảng lớn nhỏ chỉ có cảng Sài Gòn nằm trên hải trình quốc tế, các cảng khác được quy hoạch chủ yếu bắt nguồn từ cạnh tranh địa phương, thiếu sự điều phối nên vừa thừa (với nội vùng Đông Nam Á) vừa thiếu (các cảng nước sâu, trung chuyển). Đó là chưa nói đến việc chi phí cao, dịch vụ kém, thời gian thông quan hàng hóa lâu.

“Khi cảng của Thái Lan, Myanmar mở ra, vấn đề đặt ra là các dự án đầu tư cơ sở hạ tầng của chúng ta ngoài việc gắn với Trung Quốc thì để làm gì? Đây là bài toán rất lớn. Một khi đòn bẩy cơ sở hạ tầng chạy dọc từ Trung Quốc xuống Bangkok (Thái Lan) xong xuôi thì con đường song song của chúng ta dù đã phải vay rất nhiều tiền để đầu tư sẽ trở nên lãng phí. Đây là thách thức hiện hữu trong 30-50 năm nữa”, ông Vũ cảnh báo.

Ứng phó thế nào?

Ông Hà Huy Thắng chia sẻ, thực ra một Trung Quốc “điều chỉnh” cũng có nhiều cơ hội cho doanh nghiệp bởi đây là thị trường tiêu thụ khổng lồ, dễ tính và nằm sát Việt Nam. Do vậy, doanh nghiệp có thể tập trung sản xuất và xuất khẩu các mặt hàng mà Trung Quốc không thể sản xuất hoặc không thể làm với giá rẻ hơn Việt Nam như cà phê, gạo, hồ tiêu. Bên cạnh đó, đây cũng là nơi cung cấp nguyên liệu giá rẻ cho doanh nghiệp Việt Nam sản xuất hàng xuất khẩu. Câu chuyện còn lại là doanh nghiệp tận dụng và được Nhà nước hỗ trợ ra sao.

Theo ông Thắng, để khai thác được thị trường rộng lớn trên, điều cần thiết là phải để doanh nghiệp Việt Nam làm chứ không phải là doanh nghiệp Trung Quốc hoặc do Trung Quốc kiểm soát thực hiện. Nhà nước hỗ trợ bằng cách lập kho ngoại quan tại các vùng tiêu thụ chính ở Trung Quốc, lập khu buôn bán hàng Việt Nam và hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trong việc bảo hộ sản phẩm.

Đặc biệt, để đối phó với một Trung Quốc điều chỉnh, không gì tốt hơn là Nhà nước liên tục cập nhật thông tin cho cộng đồng doanh nghiệp về chính sách mới của quốc gia này ở mọi góc cạnh, từ vĩ mô đến vi mô, từ địa phương đến ngành hàng; đánh giá những tác động đến Việt Nam và việc hoạch định chính sách của Chính phủ. Muốn vậy, Nhà nước cần có cơ quan chiến lược về kinh tế, nghiên cứu và dự báo được các chủ trương, chính sách làm cơ sở chuẩn bị chính sách sớm, có lộ trình phù hợp, tránh gây bất ngờ cho doanh nghiệp.

Bà Vũ Kim Hạnh, Chủ tịch Hội Doanh nghiệp hàng Việt Nam chất lượng cao, dẫn lời một chủ doanh nghiệp Hoa Kỳ đã làm ăn ở Trung Quốc nhiều năm rằng, thị trường Trung Quốc lớn, gần và hấp dẫn đến nỗi không bao giờ dám nghĩ không làm. Tuy nhiên, đây cũng là thị trường mà hàng hóa của mình có thể bị làm giả rất nhanh, thương hiệu có thể bị “ăn cắp” từ trước khi mình có mặt và bản thân mình “dính” kiện tụng hoài. Vì vậy, nên thuê dịch vụ của công ty luật (hay thuê luật sư) chuyên về sở hữu trí tuệ và công ty chuyên về kế toán, kiểm toán nếu muốn làm ăn lâu dài ở Trung Quốc. Hãy tính toán kỹ những thiệt hại từ các vấn nạn trên, nếu đủ bản lĩnh và vẫn có lợi nhuận thì hãy làm.

Theo bà Hạnh, các doanh nghiệp Việt nên liên kết thực lòng với nhau, liên kết sẽ hỗ trợ nguồn lực cho nhau và giảm thiểu thiệt hại. Cũng nên liên kết cả với những người địa phương đáng tin cậy.

Tại hội thảo, bà Hạnh cũng kiến nghị trong quan hệ buôn bán với Trung Quốc, cần nâng dần buôn bán chính ngạch, xem xét lại buôn bán tiểu ngạch để hạn chế thiệt hại cho nông sản Việt Nam, thay đổi dần cung cách làm ăn “lợi bất cập hại” với Trung Quốc (chỉ xuất nguyên liệu thô; bất chấp chất lượng, an toàn; bất cần tìm hiểu thị trường…).

Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc sẽ giảm về 5% trong năm năm tới

Suy giảm tăng trưởng của kinh tế Trung Quốc đã định hình và có thể kéo dài đến khi chính phủ nước này tuyên bố mục tiêu tăng trưởng ở mức 5,5% (hiện tại là 7%). Bởi lẽ, vấn đề cốt lõi của nền kinh tế Trung Quốc lúc này là núi nợ (được các tổ chức ước tính dao động từ 23.000-27.000 tỉ đô la Mỹ) và nỗi lo giảm phát. Đây đều là những vấn đề cần thời gian xử lý lâu dài.

Do vậy, sản xuất công nghiệp của Trung Quốc trong vòng 2-3 năm tới vẫn khó khăn. Bên cạnh đó, giữa mục tiêu cải cách và tăng trưởng, Trung Quốc đang nghiêng về lựa chọn “ổn định tăng trưởng” trước các áp lực về việc làm và dư thừa sản lượng.

Chính phủ Trung Quốc có nhiều khả năng sẽ phá vỡ giới hạn thâm hụt ngân sách đề ra hiện nay để đáp ứng mục tiêu tăng trưởng trong bối cảnh đã liên tục hạ lãi suất và giảm tỷ lệ dự trữ bắt buộc. Đồng nhân dân tệ đã tăng giá khoảng 15% trong vòng một năm qua nên dư địa để phá giá vẫn còn. Tuy nhiên, tác động lâu dài của việc phá giá đối với xuất khẩu không lớn do hiệu ứng chuyển của tỷ giá. Hơn nữa mức độ phá giá đồng tiền này còn bị ràng buộc bởi việc đồng nhân dân tệ có được tham gia vào rổ tiền tệ Quyền rút vốn đặc biệt (SDR) của Quỹ Tiền tệ quốc tế (IMF) hay không.

Lo lắng lớn của Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc (PBoC) lúc này là làm sao nới lỏng tiền tệ và để tín dụng chảy vào lĩnh vực sản xuất thay vì chảy vào thị trường tài sản. Tăng trưởng tín dụng của Trung Quốc hiện ở mức thấp kỷ lục cho thấy khả năng hấp thụ vốn yếu ớt của doanh nghiệp. Tuy nhiên điều này tương đối dễ hiểu bởi việc kinh doanh ngày càng khó khăn, lợi nhuận giảm sút do xuất khẩu giảm và giá giảm.

Nền kinh tế của Trung Quốc trong tương lai có thể có ba kịch bản, phụ thuộc vào nỗ lực cải cách, tái cơ cấu mà chính quyền nước này đề ra. Tương ứng với ba kịch bản này sẽ có ba bức tranh kinh tế. Và mỗi bức tranh đều tác động không nhỏ đến Việt Nam. Tuy nhiên, đặc điểm chung của cả ba kịch bản kinh tế này là tăng trưởng Trung Quốc đều sẽ suy giảm về ngưỡng 5% trong vòng năm năm tới.

(TS. Phạm Sỹ Thành, Giám đốc Chương trình Nghiên cứu kinh tế Trung Quốc thuộc VEPR (VCES), Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội)

(Theo Kinh Tế Sài Gòn)

Xem nhiều

Tin liên quan

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Video