“Tôi tin Việt Nam sắp thành điểm đến của các tập đoàn lớn trên thế giới”

31/10/2014 08:00

“Tôi tin rằng một vài năm tới Việt Nam thành điểm đến của các tập đoàn lớn trong top 500 tập đoàn lớn trên thế giới”, GS. TSKH Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài cho biết trong cuộc trao đổi với PV.

“Tôi tin Việt Nam sắp thành điểm đến của các tập đoàn lớn trên thế giới”
GS. TSKH Nguyễn Mại, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp Đầu tư nước ngoài. Ảnh: TL

Việt Nam- điểm đến hứa hẹn của doanh nghiệp FDI

Thu hút đầu tư nước ngoài FDI đang chuyển sang giai đoạn tập trung về chất thay vì lượng như thời gian trước đây. Vì sao có sự chuyển dịch đó, thưa ông?

Việt Nam vẫn thu hút FDI về chất lượng và số lượng. Khi đất nước còn khó khăn, không thể lựa chọn được doanh nghiệp FDI chất lượng cao vì vậy việc thu hút FDI đầu tư vào những ngành sử dụng nhiều lao động giá rẻ vẫn được chú trọng nhưng dần dần chúng ta đã chuyển sang dự án chất lượng cao hơn do có những tiềm lực của đất nước đã khá hơn…

Về tiềm lực kinh tế, nền kinh tế năm 2014 có thể nói bằng 10 lần so với năm 1991. Kinh nghiệm về đầu tư nước ngoài cũng nhiều hơn, chúng ta đã sửa 3-4 lần Luật Đầu tư nước ngoài, hình thành Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp theo tinh thần cởi mở hơn với doanh nghiệp. Hai luật này sẽ được Quốc hội thông qua trong kỳ họp lần này.

Đặc biệt, các nhà đầu tư nước ngoài nhìn vào thị trường gần 100 triệu dân vào năm 2020 với sức tiêu dùng các sản phẩm công nghệ cao như điện tử, mobile, máy tính bảng… với thói quen tiêu dùng khác so với nhiều nước biến Việt Nam thành thị trường tiềm năng.

Ngoài ra, chúng ta có những điều kiện tốt hơn so với các nước ASEAN như Indonesia, Philippines… do ổn định hơn về chính trị, an ninh xã hội, mặc dù tốc độ tăng trưởng chậm lại nhưng so với các nước khác vẫn khá cao.

Trung Quốc, quốc gia thu hút vốn đầu tư dẫn đầu các nước đang phát triển của thế giới nhưng gần đây giá nhân công cao, hay đình công, bãi công, doanh nghiệp trong nước phát triển có sự cạnh tranh gay gắt với nước ngoài, quan hệ chính trị giữa Trung Quốc và một số nước xấu đi vì vậy đang có xu thế dịch chuyển dự án đầu tư của một số nước như Nhật Bản, Hàn Quốc từ Trung Quốc sang các nước ASEAN trong đó có Việt Nam.

Các nhà đầu tư đang coi Việt Nam như điểm đến đầy hứa hẹn và trên thực tế năm 2013-2014 có những chuyển động hết sức tích cực.

Sự chuyển dịch được thể hiện như thế nào, thưa ông?

Các tập đoàn lớn như Samsung (Hàn Quốc) đầu tư vào Việt Nam với vốn đăng ký hơn 8 tỷ USD và gần đây nhất đã cam kết tăng vốn đầu tư thêm 3 tỷ USD. Trong cuộc trao đổi với Hiệp hội Doanh nghiệp đầu tư nước ngoài, đại diện Samsung nói sẽ đầu tư khoảng 13 tỷ USD vào năm 2015-2016.

Samsung đầu tư không chỉ lợi cho Việt Nam và Samsung mà còn kích hoạt sự đầu tư của các tập đoàn khác vào Việt Nam.

Ví dụ như Nokia, Nokia cùng Samsung vào Việt Nam từ năm 2007 nhưng Nokia từ 2007-2013 phát triển không nhiều trong khi Samsung từ năm 2007 chỉ có 650 triệu USD sản xuất điện thoại di động, máy tính bảng đến 2014 là hơn 5 tỷ USD. Tăng trưởng nhanh của Samsung buộc Nokia cũng phải thay đổi.

Thời điểm Nokia bán cho Microsoft do tiềm lực vốn có của Microsoft nên họ đã quyết định biến Nokia Bắc Ninh thành cứ điểm sản xuất điện thoại công nghệ cao. Microsoft đã quyết định chuyển nhà máy từ Hungary, một số nước khác sang Việt Nam.

Một ví dụ khác là Intel, Intel được cấp phép năm 2006 vốn đăng ký 1,2 tỷ USD, theo tôi được biết tổng vốn đầu tư thực hiện đến cuối năm 2013 khoảng hơn 600 triệu USD nhưng từ 2014 họ đã thấy cơ hội rất lớn ở Việt Nam, quyết định chuyển một nhà máy vào Việt Nam và biến Việt Nam thành trung tâm sản xuất chip của Intel cung cấp 80% cho thế giới.

Gần đây các tập đoàn của Mỹ, EU, Đức, Pháp, Nhật Bản… sẵn sàng chuyển dịch nhà máy từ các nước xung quanh hoặc từ Nhật Bản, Châu Âu, Mỹ sang Việt Nam.

Hiện chỉ có 100 tập đoàn, đầu tư mở rộng trong tổng 500 và đầu tư mới tạo cho Việt Nam có cơ hội để thu hút dự án đầu tư có chất lượng cao hơn. Tôi tin rằng một vài năm tới Việt Nam thành điểm đến của các tập đoàn lớn trong top 500 tập đoàn lớn trên thế giới.

Có làn sóng đầu tư nước ngoài rầm rộ vào Việt Nam nhưng sự chuẩn bị của Việt Nam những mặt như cơ chế, chính sách được đánh giá như thế nào thưa ông?

Chúng ta đang có sự chuẩn bị kĩ hơn về kinh tế vĩ mô biểu hiện qua việc từ Đại hội XI bắt đầu nói đến tái cấu trúc kinh tế theo mô hình tăng trưởng mới, đặc biệt đổi mới thể chế kinh tế.

Hoàn thiện hệ thống pháp luật có liên quan đầu tư nước ngoài như Luật Đầu tư, luật Doanh nghiệp, Luật Thuế được sửa đổi. Dù có một vài điểm dư luận còn đang đề nghị xem xét nhưng về cơ bản những nội dung của dự thảo luật đang được trình Quốc hội là những dự luật tốt nhất từ trước đến nay.

Trước đây, Chính phủ điều hành cải cách hành chính như yêu cầu các cơ quan giảm 30% thủ tục, nhưng bây giờ Thủ tướng Chính phủ yêu cầu cải cách cụ thể hơn như cải cách thủ tục thuế phải theo đáp ứng tiêu chí của Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD). Cải cách thủ tục Hải quan phải theo tiêu chí ASEAN.

Cách tiếp cận khác là không chịu trách nhiệm tập thể mà là cá nhân, người đứng đầu cơ quan nhà nước chịu trách nhiệm nếu không làm được thì bị thay thế. Chỉ cần 2 cách tiếp cận thay đổi và cương quyết làm triệt để từ nay trở đi sẽ có sự đổi mới trong hoạt động điều hành của Chính phủ đối với các cơ quan công quyền.

Ngoài ra, chính quyền địa phương sau một thời gian thu hút đầu tư theo kiểu trải thảm cho nhà đầu tư, không thực hiện quyền hạn chọn nhà đầu tư thì bây giờ có nhiều nơi như Đồng Nai, Vĩnh Phúc, Bình Dương… đã công bố dứt khoát không thu hút những lĩnh vực dùng nhiều năng lượng, ô nhiễm môi trường. Tức là các tỉnh thành đã bắt đầu thực hiện quyền lựa chọn.

Theo tôi, các nhà lãnh đạo tỉnh, thành nên quan tâm đến những lựa chọn tốt nhất. Ví dụ Bắc Ninh chỉ cần có Samsung là thay đổi cơ bản tình hình, kinh tế, xã hội của địa phương, kéo theo thu hút hàng trăm doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ.

Tuy nhiên, nói như vậy không phải chúng ta coi nhẹ doanh nghiệp vừa và nhỏ mà họ cũng có vai trò đáp ứng được nhu cầu thời kỳ mới thu hút đầu tư nước ngoài ở Việt Nam.

Về sự chuẩn bị nhân lực, có ý kiến cho rằng nhân lực của Việt Nam còn yếu và chưa đáp ứng được nhu cầu của các nhà đầu tư nước ngoài?

Tôi đã đến 2 nhà máy của Samsung tại Bắc Ninh, Thái Nguyên, 2 nhà máy sử dụng khoảng 60.000 nhân công không đòi hỏi công nhân đã qua trường nghề, Samsung lấy chủ yếu là tốt nghiệp cấp 3 đào tạo 2-3 tháng. Do dây chuyền hiện đại, công nhân đứng máy làm thao tác đơn giản trừ kỹ sư, xưởng trưởng trình độ cao hơn. Điều này đòi hỏi các trường nghề phải thay đổi cách đào tạo, nếu không cập nhật được đào tạo ra không ai sử dụng.

Có ý kiến đánh giá Việt Nam có lợi thế nhân công rẻ nhưng giờ không phải như vậy. Ở Samsung họ trả cho lao động Việt Nam, mỗi lao động thống nhất là 6 triệu đồng/tháng, bình quân là 11 triệu đồng/tháng, được hỗ trợ ăn ở. Công nhân tại đây không có ai bị kỷ luật và Samsung cho rằng lao động Việt Nam khi được giáo dục tốt hơn, trả lương tốt hơn rất có kỷ luật, năng suất lao động cao.

Chúng ta nhận định lợi thế lao động Việt Nam giá rẻ là không đúng nhưng phải chuyển nhanh làm cho lao động Việt Nam có thu nhập khá hơn và đòi hỏi người lao động làm với chất lượng tốt hơn.

Tôi nghĩ lao động Việt Nam hoàn toàn đáp ứng được các yêu cầu khắt khe về lao động chất lượng cao. Samsung đã tuyển được 1.200 kỹ sư phần mềm của Việt Nam cho trung tâm R&D Từ Liêm (Hà Nội) và cho biết sẽ tuyển thêm 1.000 kỹ sư.

Nhưng đại diện Samsung cũng nói với tôi rằng đã có một số kỹ sư bắt đầu muốn tìm việc làm nơi khác, đây là nhược điểm của những người lao động Việt Nam với tâm lý “đứng núi này trông núi nọ”.

Cơ hội lớn, thách thức nhiều

Việc tham gia các Hiệp định song phương và đa phương, đặc biệt sắp tới đây có thể là Hiệp định Thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP) sẽ tác động như thế nào đến hoạt động đầu tư nước ngoài vào Việt Nam, thưa ông?

Cơ hội mới là rất lớn nhưng thách thức cũng nhiều. Chúng ta mở toang cửa về hội nhập kinh tế quốc tế và tiếp tục tham gia những Hiệp định rất lớn như TPP với các nước hàng đầu thế giới trong khi sức cạnh tranh của chúng ta còn yếu so với họ.

Tôi tin tưởng chúng ta chỉ cần cải cách thủ tục hành chính, tạo môi trường đầu tư thuận lợi, chắc chắn sẽ thu hút các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài. Thời gian vừa qua doanh nghiệp nước ngoài đã là động lực tăng trưởng tốt nhất sẽ góp phần cao hơn có hiệu quả hơn vào kinh tế trong nước.

Tuy nhiên, khi tham gia TPP, xuất khẩu sang các thị trường lớn như Mỹ nhiều mặt hàng có mức thuế bằng 0, các quốc gia khác như Trung Quốc sẵn sàng vào Việt Nam tận dụng cơ hội này. Chẳng hạn như làn sóng đầu tư vào dệt, nhuộm Trung Quốc đang đón đầu TPP, sản xuất ở Việt Nam, có xuất xứ Việt Nam hàng hóa xuất sang thị trường khác sẽ bằng 0.

Vì vậy, việc nâng cao năng lực doanh nghiệp là rất cần thiết và tôi lo nhất là việc chuẩn bị cho doanh nghiệp Việt Nam tiếp cận cơ hội mới tạo lực đẩy cho doanh nghiệp Việt Nam vượt qua khó khăn phát triển mạnh hơn trong 5 năm tới. Làm thế nào để có được đội ngũ doanh nhân mạnh mẽ, có tập đoàn kinh tế nhà nước, tư nhân lớn, hàng triệu doanh nghiệp vừa và nhỏ được hoạt động tốt hơn hiện nay là điều khó khăn nhất.

Đặc biệt, bản thân doanh nghiệp phải có chiến lược dài hạn, chú trọng công nghệ và nhân lực chất lượng cao nhưng hỗ trợ của nhà nước rất quan trọng. Chính phủ cần một chương trình hành động rõ ràng, cần có chính sách và cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn.

Doanh nghiệp muốn nắm bắt cơ hội phải nhìn ra ngoài với chiến lược dài hạn thay vì chỉ biết cách làm ăn cò con, manh mún trong phạm vi nhỏ mà không có hợp tác với nhau để vươn ra ngoài.

Tôi nghĩ doanh nghiệp Việt nên học các doanh nghiệp Hàn Quốc như Samsung cách đây 30 năm. Khi đó họ chỉ như các doanh nghiệp của Việt Nam bây giờ nhưng, hiện nay là tập đoàn hàng đầu thế giới. Ước mơ, kỳ vọng như Samsung, doanh nghiệp phải tích lũy học hỏi, thay đổi tư duy doanh nghiệp.

Xin trân trọng cảm ơn ông!

(Theo Bizlive)

Xem nhiều

Tin liên quan

Cùng sự kiện

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Video