Nữ quản giáo trẻ giữa cao nguyên lộng gió

11/11/2012 08:37

Ngày về nhận việc tại Trại giam Đắk Trung, Hằng bật khóc khi thấy trước mắt là cỏ lau, cây dại um tùm cao hơn cô nửa cái đầu. Sau 8 năm giúp đỡ người lầm lỗi trở về nẻo thiện, Hằng lại thấy hãnh diện, yêu nghề.

Tốt nghiệp Trung học Cảnh sát nhân dân 2, Tạ Thị Mai Hằng có hơn một sự lựa chọn, song cô lại về công tác tại Trại giam Đắk Trung (Đắk Lắk) – nơi vẫn được cho là “rừng thiêng nước độc”.

Trung uý Tạ Thị Mai Hằng.
Trung uý Tạ Thị Mai Hằng.

Nhắc lại thời điểm mới về trại công tác, Hằng chia sẻ: “Ai cũng bảo tôi bị… hâm. Có cơ hội về miền xuôi làm việc thì không thích, lại thích chui rúc ở cái nơi khỉ ho cò gáy”. Thế nhưng, bằng tình yêu đất, yêu nghề ở mảnh đất hồn hậu này, Hằng đã gắn bó với nó. Cô bảo mảnh đất đó đã cho mình rất nhiều, một công việc có ý nghĩa, giúp đỡ những phận đời lầm lỗi; một gia đình nhỏ với người bạn đời biết cảm thông, chia sẻ với công việc vất vả của vợ.

Ở Trại giam Đắk Trung, số lượng phạm nhân là người dân tộc khá lớn, đa phần hiểu biết pháp luật hạn chế. Do đó công việc cảm hóa, giáo dục phạm nhân, giúp họ hiểu rõ chính sách, pháp luật gặp không ít khó khăn. Chính vì sự hiểu biết pháp luật non yếu này mà họ “vô tình” phạm tội và không ý thức được hậu quả gây ra. Như trường hợp của phạm nhân người dân tộc Ê-đê có tên HĐon thụ án tại phân trại K2 của Trại giam Đắk Trung do Hằng trực tiếp quản lý, giáo dục. Chị ta đi tù vì giết người đứa con mới lọt lòng.

Người dân tộc Ê-đê theo chế độ mẫu hệ, nữ giới được trọng vọng, có vai trò lớn trong gia đình và cộng đồng. Chính vì quan niệm này, phụ nữ Ê-đê chỉ ao ước sinh được con gái. Nhưng, “chẳng may”, đứa con chào đời của HĐon lại là con trai. Hôm ấy, HĐon đặt con trai vào một chiếc nôi nhỏ rồi treo lủng lẳng lên cây. Khi người ta phát hiện ra thì đứa trẻ đã chết.

Trong phiên tòa xét xử, với vốn tiếng Việt ít ỏi, HĐon thật thà phân bua: “Nó là con tao. Tao nuôi hay không là quyền của tao mà. Cớ sao tao bị cán bộ áo xanh bắt?”. Những lời giải thích của vị chủ tọa không thể một sớm một chiều giúp HĐon “ngấm” và hiểu tội lỗi phạm phải.

Thời gian thụ án tại trại, HĐon khép mình, không trò chuyện, giao lưu với mọi người xung quanh, do bất đồng ngôn ngữ, mặc cảm. Nhìn HĐon lủi thủi, cô độc, quản giáo Hằng tìm mọi cách tìm hiểu tâm tư, tình cảm của người đàn bà này.

Sự chậm chạp trong tâm lý tiếp nhận của HĐon khiến cán bộ Hằng mất rất nhiều công sức. Chị tâm sự: “Có những thứ ngoài nội quy, quy chế trại giam, đó là tình người”. Vì sự bất đồng ngôn ngữ nên nhiều lúc chị Hằng giải thích thì HĐon hiểu, nhưng ngược lại, HĐon không biết diễn tả tâm tư, tình cảm của mình như thế nào để người khác hiểu được. HĐon được quản giáo Hằng dạy viết và nữ phạm nhân này dần vui vẻ, cởi mở. Chị ta tích cực, chăm chỉ lao động, cải tạo và đã được hưởng ân xá của Chủ tịch nước, sớm trở về hòa nhập cộng đồng.

Trung úy Hằng tâm sự, trại giam là xã hội thu nhỏ với đầy đủ kiểu dạng người. Một trong những trường hợp để lại cho Mai nhiều suy nghĩ và niềm cảm thông là nữ phạm nhân Hoàng Thị Nhàn, án phạt 12 năm với tội Giết người. Nạn nhân của Nhàn là người chồng đầu ấp tay gối mười mấy, hai mươi năm. Nhàn thực hiện tội ác với sự giúp sức của người tình. Một người đàn bà phản bội chồng đi tù trong tai tiếng và nước mắt tủi hờn.

Thời gian đầu mới vào trại, Nhàn không nói chuyện với ai. Chị ta thường lủi thủi một mình trong cả công việc và đời sống sinh hoạt hằng ngày. Bạn tù phong cho Nhàn danh hiệu “nữ hoàng băng giá”. Ngay cả khi quản giáo Hằng gọi riêng chị Nhàn tới nói chuyện, cô vẫn giữ nguyên phong cách kiệm lời, ít nói, chỉ lặng yên lắng nghe.

Không chịu bỏ cuộc, quản giáo Hằng kiên trì trò chuyện, tìm hiểu thông tin và biết Nhàn có 3 người con, trong đó 2 đứa vào Sài Gòn học và làm việc. Quản giáo Hằng gặp riêng Nhàn, đánh thức khát vọng hoàn lương, khát vọng trở về bù đắp thiếu thốn cho 3 đứa con bất hạnh nén chặt trong lòng chị ta. Và lần đầu tiên kể từ khi nhập trại, “tảng băng” lạnh lùng kia đã “tan chảy” và chịu mở lòng chia sẻ về cuộc hôn nhân không hạnh phúc dẫn tới bi kịch đau lòng.

Chồng Nhàn là người đàn ông bạc nhược, không có chí tiến thủ, chỉ thích rượu chè, nhậu nhẹt bạn bè. Tất cả lo toan, công việc nặng nhọc trong nhà dồn cả vào Nhàn. Vì các con, Nhàn cắn răng chịu đựng tất cả buồn phiền, ngụy trang cuộc hôn nhân của bản thân bằng những nụ cười giả dối.

Tìm kiếm sự đồng cảm, sẻ chia ở chồng trong vô vọng, Nhàn gặp người đàn ông tên Tuyên, dân chạy chợ bán buôn như chị. Ban đầu chỉ là mối quan hệ buôn bán bình thường, nhưng dần dà Nhàn có tình cảm với anh này. Phát hiện ra vợ ngoại tình, anh chồng đã đánh vợ thậm tệ. Nhàn từng quỳ xuống xin cảm chồng tha thứ và viết đơn ly hôn, xin anh ký vào đó để giải thoát cho cả hai. 5 lần 7 lượt gửi đơn cho chồng đều bị anh xé bỏ với lý do: “Không để chúng mày đắc ý trong hạnh phúc”.

Nhàn đem câu chuyện buồn kể cho Tuyên nghe. Hai người chế mìn và giăng bẫy “cảnh cáo” chồng của cô ta. Trong vụ án đó Nhàn phải chịu mức án 12 năm tù và người tình Bùi Sỹ Tuyên bị phạt 11 năm.

Quản giáo Hằng bảo, hành động của Nhàn vi phạm pháp luật, song cũng thật đáng thương. Chị ta bị giam cầm cuộc đời trong tờ giấy giá thú không tình yêu. Cùng là phụ nữ, quản giáo Hằng xót thương cho những người đàn bà dại dột, liều lĩnh như Nhàn.

Hiện Hằng đã được lên cấp trung úy. Sau 8 năm về công tác, cô sinh viên ngày ấy đã trở thành cán bộ quản giáo giỏi việc, không ngừng học hỏi, chuyên chở giấc mơ hoàn lương cho những người lầm lạc.

PV (CSTC)

Xem nhiều

Tin liên quan

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Video