Nhân vật chính trung gian hòa giải chiến tranh Việt Nam vừa qua đời

05/09/2013 12:16

Ngày 3 tháng 9, tờ New York Times của Mỹ đưa tin ông Janusz Lewandowski, đặc phái viên hòa bình Ba Lan tại Việt Nam – nhân vật chính của một trong những nỗ lực trung gian hòa giải trong chiến tranh Việt Nam, vừa qua đời tại Warsaw, Ba Lan, hưởng thọ 82 tuổi.

Ban biên tập xin giới thiệu bài viết để chúng ta thấy một góc nhìn về một giai đoạn lịch sử hào hùng của dân tộc Việt Nam trong đấu tranh giải phóng thống nhất đất nước vô cùng gian khổ cả trên chiến trường cả về ngoại giao.

Tháng 6 năm 1966, chiến tranh Việt Nam diễn ra ác liệt dường như không có hồi kết, trong bối cảnh Tổng thống Mỹ Lyndon B. Johnson bàn luận về cuộc tấn công “không tiếng súng” đậm chất ngoại giao mang tên “chiến dịch Marigold”. Trong những cuộc phỏng vấn được ghi hình tại Phòng Bầu Dục, Tổng thống Mỹ Johnson đưa ra nhận xét đây là chiến dịch “thực tế nhất, đáng tin cậy nhất, những xúc cảm về hòa bình thuyết phục nhất mà tôi đã từng cảm nhận kể từ khi tôi được làm tổng thống”.

Janusz Lewandowski và Thủ tướng Phạm Văn Đồng năm 1969

Nhân vật chính đằng sau những nỗ lực trung gian hòa giải chiến tranh Việt Nam này là một nhà ngoại giao Ba Lan 35 tuổi mang tên Janusz Lewandowski, người đã qua đời ngày 13 tháng 8 tại Warsaw ở tuổi 82. Giữa những năm 60, ông Lewandowski được cử tới Việt Nam như một nguồn khơi sáng để khám phá con đường đến đàm phán hòa bình.

Ông đặt chân đến Sài Gòn vào ngày 10 tháng 4 năm 1966 và chính thức trở thành đại diện Quốc tế Cộng Sản tại Ủy Ban Kiểm soát Quốc tế, một tổ chức được thành lập để giám sát các hành vi vi phạm Hiệp định ngừng chiến sau khi Việt Nam bị chia cắt Bắc Nam với sự thất bại của thực dân Pháp năm 1954.

Nhưng công việc chính của ông là ở Thủ đô Hà Nội. 9 ngày sau đó, ông bay ra Hà Nội trên chiếc Boeing 307 Stratoliner ọp ẹp, mang theo “những lời cầu nguyện phước lành từ Moscow”. Nhà lãnh đạo Xô Viết, Leonid I. Brezhnev, đã quyết định hủy nhiệm vụ sau khi hội ý cùng Bộ trưởng Ngoại giao Ba Lan, Adam Rapacki. Ông Brezhnev nhìn nhận bước đi của Moscow trong cuộc chiến, khi cung cấp vũ khí và viện trợ cho Hà Nội

Ban đầu, những nhà lãnh đạo Cách mạng Việt Nam khẳng định mạnh mẽ chiến thắng vừa giành được và sẽ không thỏa hiệp với kẻ thù hay những kẻ tay sai của Mỹ tại miền Nam Việt Nam. Ông Lewandowski ngay sau đó đã có cuộc trao đổi thẳng thắng với Thủ tướng Phạm Văn Đồng và giật mình khi nghe ông nói rằng Mỹ sẽ bị nhân dân Việt Nam đánh bại dễ dàng hơn so với Pháp.

Máy bay B52 của Mỹ thả bom rải thảm xuống Hà Nội

Ông Lewandowski trả lời “người Mỹ có quyền lực rất lớn”, ông gợi lại sự kiện những năm trước và chỉ ra một “minh chứng” tàn ác của Mỹ: Chiến dịch rải thảm bom của Mỹ tại miền Bắc Việt Nam.

Những nhà lãnh đạo Cách mạng Việt Nam dần tiếp nhận quan điểm của ông và cho rằng chúng tôi có thể xem xét đàm phán. Liệu ông có thể đóng vai trò trung gian?

Ông Lewandowski trở lại Sài Gòn, nơi ông được biết đến là một nhà Cộng Sản ôn hòa và có mối quan hệ tốt. Thật bất ngờ, Bộ trưởng Ngoại giao của miền Nam Việt Nam đã đưa ông đến gặp Tổng thống Chính quyền Sài Gòn, ông Nguyễn Văn Thiệu.

Ông Lewandowski ban đầu sửng sốt, suy xét tình huống gặp mặt một nguyên thủ quốc gia mà không hề theo khuôn phép cũng như không có chỉ thị nào từ Ba Lan. Nhưng, lòng sôi sục với nhiệm vụ đã dẫn dắt ông. Tổng thống chính quyền Sài Gòn cũng cho rằng ông Lewandowski có thể là một trung gian cho các cuộc đàm phán.

Ông sớm có một người bạn quan trọng, Giovanni D’Orlandi, Đại sứ Ý ở miền Nam Việt Nam. Như James G. Hershberg đã viết trong một bài tường thuật “Marigold: Cơ hội tưởng chừng đã mất cho hòa bình Việt Nam”  hai người đàn ông chơi cờ vua và bàn luận về cách Washington đánh giá thấp dân tộc Việt Nam.

Khu phố Khâm Thiên bị bom của Mỹ phá hủy nặng nề

 

Ông James G. Hershberg viết, “dần dần, Lewandowski sắp xếp cho vai trò duy nhất của mình, thậm chí đến kỳ lạ trên chính trường ngoại giao Sài Gòn – một Đại sứ Cộng sản, có khả năng đưa ra những cái tên từ lãnh đạo cách mạng Việt Nam và cung cấp trực tiếp những lời nói từ phía bên kia của “bức màn tre” chia cắt Việt Nam, thông thạo tiếng Anh (tuy nhiên yếu tiếng Pháp) và hoạt động xã hội như một sự kết hợp đa dạng.

Ông trích dẫn lời ông Lewandowski, “họ nhìn tôi như thể tôi đến từ mặt trăng”.

Sự thật thì ông đến từ Warsaw, được sinh vào ngày 10 tháng 3 năm 1931. Ông nhận bằng thạc sĩ của Đại học Quốc gia Taras Shevchenko, gia nhập một tổ chức thanh niên cộng sản và trở thành nhà ngoại giao. Con trai của ông, Krzysztof, cho biết ông qua đời vì bệnh ung thư.

Ông Lewandowski trở lại Hà Nội vào tháng 6 năm 1966. Đại diện phía Cách mạng Việt Nam, ông Phạm Văn Đồng nói với ông, thời điểm này sẵn sàng để có những nhượng bộ đáng kể và yêu cầu hòa hoãn rằng quân đội Mỹ phải rời đi, không yêu cầu khởi hành ngay lập tức.

Ông Lewandowski trở về Sài Gòn. Đại sứ D’Orlandi đã tổ chức một cuộc họp tại nơi cư trú, với sự tham gia của đại sứ Mỹ, Henry Cabot Lodge, gặp mặt nhà ngoại giao trẻ người Ba Lan. Trên đường đến, ông Lodge cao lêu nghêu, đã núp ở băng ghế sau trên chiếc xe tư nhân để tránh bị phát hiện.

Ông Lewandowski chắc chắn những thông điệp từ Chính phủ Hoa Kỳ sẽ được đưa đến Hà Nội. Thứ nhất là sự chấp thuận từ Washington cho tính trung lập của miền Nam Việt Nam. Thông điệp còn lại liên quan đến việc chấm dứt ném bom miền Bắc với thỏa hiệp Cách mạng Việt Nam không được đưa quân xuống miền Nam. Chính quyền Johnson gọi thỏa hiệp này là Cúc Vạn Thọ, theo phong cách đặt tên những “nỗ lực hòa bình” dưới tên các loài hoa.

Sau đó vài tháng, Johnson đã đến thăm quân đội tại Việt Nam và kêu gọi họ “hãy trở về với mái ấm và nghỉ ngơi trong thời gian tới”. Những mệnh lệnh riêng của ông nhấn mạnh vào những nỗ lực bình định miền Nam Việt Nam và đàm phán để chấm dứt chiến tranh.

Ngày 01/12/1966, Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa thực hiện bước tiếp theo nhằm kiểm tra những “biểu hiện hòa bình” từ Washington bằng thông điệp gửi cho ông Lodge qua người trung gian Lewandowski, nếu người Mỹ thật sự có thành ý thì hãy tiến hành hội đàm song phương tại Warsaw, Ba Lan.

Nhưng quân và dân Việt Nam vẫn quyết đánh đuổi Mỹ xâm lược

Ngày hôm sau, 02/12, cả miền Bắc choáng váng bởi vụ máy bay oanh tạc trong vòng 5 dặm tại Hà Nội. Những người dân Việt Nam tại phía Bắc căm phẫn trước hành động này của Washington và chỉ trích cuộc tấn công này man rợ và kẻ cướp. Kế hoạch này đã được ám tính từ 3 tuần trước đó và không hề có bất kỳ mệnh lệnh ngăn cản nào từ chính quyền Mỹ và tay sai, những người đã được thông báo về cả kế hoạch tấn công lẫn cuộc họp Warsaw, ông Hershberg, giáo sư lịch sử và những vấn đề quốc tế tại Đại học George Washington cho hay.

Sự việc xảy ra từ lâu đã gây tranh cãi nhưu thế nào?.

Năm 1968, 2 phóng viên của tờ The Los Angeles Times, David Kraslow và Stuart H. Loory, đã viết rằng “sự bất tài bị đem ra đổ lỗi”, trích dẫn lời một quan chức giấu tên nói: “Ôi, Chúa ơi. Chúng tôi bị mất kiểm soát”.

Hai ngày sau, ngày 04 tháng 12, Hoa Kỳ một lần nữa ném bom rai thảm Hà Nội. Trước đó, quân du kích Cách mạng Việt Nam đã tấn công một căn cứ không quân miền Nam Việt Nam và một tòa nhà quân sự Mỹ ở Sài Gòn.

Tuy vậy, theo những ghi chép của ông Hershberg thì Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa vẫn thông qua kế hoạch hội đàm ngày 06/12 tại Warsaw, và cử ông Nguyễn Đình Phương, người sau này làm phiên dịch cho đàm phán Lê Đức Thọ – Kissinger tại Hội nghị Paris, với chỉ đạo phải hủy tài liệu về đề xuất của Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa (được giấu kín giữa hai lớp áo khoác của Nguyễn Đình Phương) trong trường hợp xảy ra bất trắc.

Nhưng buổi hội đàm đã không diễn ra do sự nhầm lẫn. Trong khi các đại sứ Mỹ tại Ba Lan, ông John A. Gronouski, chờ đợi ở Bộ Ngoại giao Ba Lan thì bên phía đại sứ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, ông Phương và ông Đỗ Phát Quang chờ tại Đại sứ quán Việt Nam.

Trong bối cảnh những nỗ lực đàm phán tại Ba Lan trong tình trạng lấp lửng, các nhà lãnh đạo phía Hoa Kỳ rõ ràng đang lo sợ những đợt ném bom ấn định sẵn vào ngày 13 và 14 tháng 12 sẽ dẫn đến kết thúc đàm phán. Trong cuốn “Nhìn lại quá khứ: Bi kịch và bài ​​học về Việt Nam” (1995), Robert S. McNamara, Bộ trưởng qQuốc phòng trong chính quyền Kennedy và Johnson, cho biết ông và Thứ trưởng ngoại giao, Nicholas deb. Katzenbach, đã kêu gọi mạnh mẽ để hoãn lại những vụ oanh tạc rải thảm bom.

Nhưng Johnson đã quyết định rằng Marigold “là một con sông đã chết”, như ông viết trong cuốn hồi ký năm 1971, “Lợi thế cốt yếu: Quan điểm của Tổng thống, 1963-1969”.

Johnson đã viết “Một sự thật đơn giản, tôi đã bị thuyết phục, rằng miền Bắc Việt Nam không sẵn sàng để đàm phán với chúng tôi” . “Người Ba Lan không chỉ đặt xe ngựa trước khi có ngựa, khi thời điểm kế hoạch đến, họ thậm chí không có con ngựa.” (Một câu ngạn ngữ ở Mỹ, ám chỉ việc làm đi ngược thực tế)

Các vụ đánh bom đã đi trước, giết chết rất nhiều thường dân ở Hà Nội. Nỗ lực hòa bình của ông Lewandowski đã chết. Vào buổi sáng hôm diễn ra hội đàm Warsaw, ông Johnson nhận được thông báo rằng 6.250 sĩ quan quân sự Mỹ đã chết tại Việt Nam. Trong những năm tới, sẽ có thêm 52.000 sĩ quan chết, cùng với hàng chục ngàn người Việt Nam, cả dân thường và bộ đội.

Ông Lewandowski tại Warsaw năm 2003.

Ông Lewandowski rời Việt Nam vào tháng 5 năm 1967. Sau đó ông được bổ nhiệm vào Ban Đại sứ của Ba Lan tại Ai Cập và Hy Lạp. Ông về hưu vào năm 1991 khi Chính phủ mới không theo đường lối cộng sản đã không đề bạt ông vào một chức vụ ngoại giao.

Hôn nhân đầu tiên của ông kết thúc trong ly hôn. Ngoài con trai của mình, Krzysztof, ông sống cùng vợ, Wanda, con gái của ông, Joanna Lewandowski-Mironczyk và một cháu gái.

Ông Hershberg, tác giả của cuốn sách dày 900 trang kể về sự việc dựa trên các tài liệu, những buổi phỏng vấn và hàng giờ liền trò chuyện cùng ông Lewandowski tại một quầy bar trong khách sạn ở Warsaw. Ông cho biết trong một buổi phỏng vấn rằng tại thời điểm kết thúc, những khởi xướng thất bại chỉ làm tổn hại triển vọng hòa bình theo quan điểm của Mỹ.

Thiên Lý (lược dịch từ NewYork Times)

 

Xem nhiều

Tin liên quan

Cùng sự kiện

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM