Kỳ họp thứ 5, Quốc hội khóa XIII: “Nóng” vấn đề thu hồi đất

18/06/2013 10:29

Ngày 17-6-2013, dưới sự điều khiển của Phó chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân, Quốc Hội họp phiên toàn thể tại hội trường thảo luận một số nội dung của dự thảo Luật đất đai (sửa đổi).

Mở đầu buổi làm việc, Ủy viên Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Nguyễn Văn Giàu trình bày Báo cáo của Ủy ban Thường vụ Quốc hội giải trình, tiếp thu, chỉnh lý Dự thảo Luật đất đai (sửa đổi). Theo báo cáo của Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế QH, có 7 triệu lượt ý kiến góp ý Dự thảo Luật đất đai (sửa đổi). Sau khi tiếp thu, chỉnh lý theo ý kiến nhân dân, có 14 chương, 210 điều (tăng thêm 4 điều so với Dự thảo lấy ý kiến nhân dân).

 Phó chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân
Phó chủ tịch Quốc Hội Nguyễn Thị Kim Ngân

Đa số ý kiến tán thành với việc tiếp tục quy định chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai. Một số ý kiến đề nghị thực hiện chế độ đa sở hữu đối với đất đai, sở hữu tư nhân đối với đất ở. Có ý kiến đề nghị dùng khái niệm sở hữu nhà nước thay cho sở hữu toàn dân. Tuy nhiên, đa số ý kiến nhân dân khẳng định chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai. Chế độ sở hữu toàn dân đối với đất đai đã được quy định tại Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992. Đất đai là thành quả do công sức khai phá, bồi bổ của các thế hệ người Việt Nam, thành quả cách mạng to lớn của nhân dân ta. Việc tiếp tục quy định sở hữu toàn dân đối với đất đai là phù hợp với bản chất chế độ xã hội ta. Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị giữ quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý. Liên quan đến điều 26: Những bảo đảm của Nhà nước đối với người sử dụng đất và điều 28: Trách nhiệm của Nhà nước trong việc cung cấp thông tin đất đai, nhiều đại biểu cho rằng dự thảo luật mới chỉ quy định về quyền của Nhà nước với tư cách là người đại diện chủ sở hữu toàn dân, chưa quy định nghĩa vụ của Nhà nước, chưa quy định quyền của chủ sở hữu toàn dân là nhân dân. Trong dự thảo luật, người chủ sở hữu thực sự chưa thấy mà chỉ thấy người đại diện; các tổ chức, cá nhân trở thành người sử dụng mà không có quyền gì đối với sở hữu toàn dân là chưa hợp lý.

Liên quan đến nội dung nóng về cưỡng chế, thu đồi đất, nhiều ý kiến đề nghị quy định rõ trường hợp nào thì Nhà nước thu hồi đất, trường hợp nào thì các nhà đầu tư được thỏa thuận với người sử dụng đất để thực hiện các dự án phát triển kinh tế, xã hội và các trường hợp sử dụng đất an ninh, quốc phòng trong tình trạng khẩn cấp, cơ quan soạn thảo đề nghị chỉnh lý vào dự thảo luật. Theo báo cáo của Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội Nguyễn Văn Giàu, Nhà nước chỉ thu hồi đất đối với các dự án phát triển kinh tế, xã hội quan trọng nhằm bảo đảm lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng và được Quốc hội, Thủ tướng Chính phủ quyết định chủ trương hoặc các dự án phát triển kinh tế, xã hội quan trọng của địa phương được HĐND cấp tỉnh thông qua.

Tình trạng bồi thường chậm diễn ra khá phổ biến, gây bức xúc cho nhiều người có đất bị thu hồi. Nhiều đại biểu Quốc hội đề nghị cần có quy định xử lý các trường hợp bồi thường chậm do cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường gây ra. Nội dung này được Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiếp thu và bổ sung vào điều 93 theo hướng cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường phải chi trả kịp thời tiền bồi thường, hỗ trợ cho người có đất khi Nhà nước thu hồi. Trường hợp chậm chi trả do cơ quan, tổ chức có trách nhiệm bồi thường gây ra thì ngoài tiền bồi thường, các khoản hỗ trợ theo quy định, người có đất khi Nhà nước thu hồi còn được thanh toán thêm một khoản tiền bằng với mức phạt chậm nộp thuế theo quy định của pháp luật về quản lý thuế. Trường hợp nếu do người có đất không nhận tiền bồi thường, hỗ trợ theo phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư đã phê duyệt thì số tiền này được gửi vào tài khoản tạm giữ tại Kho bạc Nhà nước.

Ý kiến đại biểu Quốc hội đề nghị ngoài việc bồi thường bằng tiền cần xem xét vấn đề sinh kế của người dân khi Nhà nước thu hồi đất tại khu vực đô thị. Nội dung này được Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiếp thu, bổ sung vào điều 83 quy định về hỗ trợ chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp. Theo đó, hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp, khi Nhà nước thu hồi đất nông nghiệp mà không có đất nông nghiệp để bồi thường thì ngoài việc được bồi thường bằng tiền còn được hỗ trợ chuyển đổi nghề, tư vấn hỗ trợ tìm kiếm việc làm; trường hợp người được hỗ trợ chuyển đổi nghề, tư vấn hỗ trợ tìm kiếm việc làm trong độ tuổi lao động có nhu cầu được đào tạo nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề và được miễn học phí đào tạo, vay vốn tín dụng ưu đãi, ưu tiên bố trí việc làm nhằm bảo đảm sinh kế cho người có đất khi Nhà nước thu hồi. Đối với trường hợp thu hồi đất trong khu vực đô thị mà có ảnh hưởng đến sinh kế của người có đất khi Nhà nước thu hồi thì hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất ở gắn với kinh doanh dịch vụ có đăng ký kinh doanh, khi Nhà nước thu hồi đất mà phải di chuyển chỗ ở thì được vay vốn tín dụng ưu đãi để phát triển sản xuất kinh doanh; trường hợp người có đất khi Nhà nước thu hồi còn trong độ tuổi lao động thì được hỗ trợ chuyển đổi nghề, tìm kiếm việc làm.

Một nội dung nữa được Ủy ban Thường vụ Quốc hội tiếp thu, chỉnh sửa vào dự thảo luật là trường hợp không còn đất ở, nhà ở nào khác trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất đã thu hồi thì được bồi thường bằng giao đất ở, nhà ở hoặc bồi thường bằng tiền theo đề nghị của người có đất; trường hợp còn đất ở, nhà ở trong địa bàn xã, phường, thị trấn nơi có đất thì được bồi thường bằng tiền. Đối với địa phương có điều kiện về quỹ đất ở thì được xem xét để bồi thường bằng đất ở. Quy định nêu trên nhằm khắc phục tình trạng tùy tiện trong việc thực hiện các hình thức bồi thường, bảo đảm ổn định cuộc sống cho người có đất ở khi Nhà nước thu hồi mà phải di chuyển chỗ ở, đồng thời tạo sự chủ động cho địa phương trong triển khai thực hiện và tạo sự chủ động cho người sử dụng đất ở khi Nhà nước thu hồi trong việc tự lo chỗ ở cho phù hợp.

Đại biểu Tôn Thị Ngọc Hạnh (Đắk Nông) cho rằng, về phương án bồi thường khi thu hồi đất thì Nhà nước cần chịu trách nhiệm đa dạng hình thức trả tiền bồi thường cho chủ sở hữu quyền sử dụng đất, có thể nhận tiền bồi thường một lần và cũng có thể nhận tiền bồi thường nhiều lần. Sở dĩ như vậy, vì trên thực tế nhiều trường hợp chủ sở hữu đất khi Nhà nước thu hồi thuộc thế hệ người cao tuổi sống nhờ vào tiền cho thuê một phần ngôi nhà, đất đai đang ở. Do đó, người nhận tiền có nguy cơ rủi ro từ thị trường khi nhận tiền một lần và phải thực hiện nhiều thủ tục chuyển đổi kỳ hạn tiền gửi. Theo bà Hạnh, cơ quan chịu trách nhiệm chi trả phải là cơ quan Nhà nước và phải tính yếu tố trượt giá. Đây có thể được xem như khoản tiền hưu trí dưỡng già giúp cuộc sống người cao tuổi ổn định khi không còn nguồn thu nhập do Nhà nước thu hồi nhà ở, đất đai.
N.Ngọc – H.Triều

Xem nhiều

Tin liên quan

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Video