Kinh tế Trung Quốc: Quả bom chờ nổ? [Phần 2]

28/03/2014 12:30

Sau hơn một thập kỷ phát triển nóng, kinh tế Trung Quốc dường như một quả bom chỉ chực nổ.

Kinh tế Trung Quốc: Quả bom chờ nổ? [Phần 2]
Việc đầu tư quá mức nhưng không phát huy hiệu quả, lực cầu nội địa giảm sút và tỷ lệ nợ quá cao là ba nguyên nhân đã đẩy nền kinh tế lớn thứ hai thế giới vào tình thế khó khăn. Ảnh: Dave Simonds
Phần 1 bài viết đã chỉ ra những tín hiệu không mấy khả quan của nền kinh tế Trung Quốc trong thời gian gần đây.

Tình hình xuất khẩu của Đại lục trong tháng Hai chỉ đạt 114 tỷ USD, giảm 18,1% so với cùng kỳ năm ngoái, một trong những yếu tố khiến các nhà đầu tư Trung Quốc hoảng loạn.

Chỉ số giá tiêu dùng và sản xuất đã chững lại trong tháng Hai, với giá tiêu dùng trượt xuống 2% từ mốc 2,5% trong tháng Một, còn giá sản xuất tiếp tục giảm từ -1,6% trong tháng Một xuống còn -2% trong tháng Hai. Giá sản xuất đã liên tục trượt dốc trong 2 năm gần đây, làm nhiều nhà kinh tế lo ngại về tình trạng giảm phát nhãn tiền.

Trong năm 2013, tăng trưởng GDP nước này chỉ đạt 7,7%, mức thấp nhất trong vòng 15 năm. Lường trước được những khó khăn trong năm 2014, Thủ tướng Lý Khắc Cường đã hạ mức tăng trưởng mục tiêu xuống chỉ còn 7,5%. Tuy nhiên sau đó không lâu, số liệu thống kê của ngân hàng ANZ cho thấy tăng trưởng quý I của Trung Quốc chỉ dừng ở mốc 7%.

Một trong những nguyên nhân đầu tiên khiến nền kinh tế Trung Quốc lao đao là việc đầu tư quá mức nhưng không hiệu quả, dẫn đến tình trạng phát triển bong bóng, thổi phồng giá trị thực.

Các dòng tiền được đổ ào ạt vào việc xây dựng cơ sở vật chất như đường xá, nhà xưởng, trang thiết bị góp phần đẩy giá trị tài sản cố định của Trung Quốc đi lên, nhưng tính hiệu quả của các dự án này khi đưa vào phục vụ sản xuất, thúc đẩy tăng trưởng GDP vẫn là một câu hỏi lớn đối với các nhà hoạch định chính sách.

Nguyên nhân thứ hai ngoài chênh lệnh về tỷ lệ đầu tư là lực cầu nội địa giảm sút

Trong những năm qua, Trung Quốc là một cường quốc về xuất khẩu, nước này đã vượt mặt Mỹ năm 2008 để trở thành nước có giá trị xuất khẩu lớn nhất thế giới.

Nhưng Thủ tướng Lý Khắc Cường đã bày tỏ lo ngại khi thấy trong cơ cấu xuất khẩu, có quá nhiều nguồn tài nguyên được huy động để sản xuất ra các sản phẩm phục vụ mục đích xuất ra ngoại quốc trong khi người dân trong nước hoàn toàn không có nhu cầu.

Tình trạng thặng dư thương mại vượt trội trong khi lực cầu trong nước ảm đạm là kết quả của chính sách điều động nguồn vốn từ hộ gia đình để thúc đẩy tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc.

Hiện tỷ lệ tiêu dùng nội địa của nước này chỉ đứng tại 35% theo số liệu của Ngân hàng Thế giới, con số này không có dấu hiệu chuyển biến trong 4 năm vừa qua, và chỉ nhỉnh hơn một nửa so với mức trung bình của toàn thế giới.

Để đạt được mục tiêu cân bằng nền kinh tế mà Quốc hội Trung Quốc đặt ra trong kỳ Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa 12, ít nhất cơ cấu tiêu dùng nội địa phải chiếm 50% GDP, có nghĩa là nếu tăng trưởng GDP ở mức 6 – 7% như hiện tại, ít nhất tăng trưởng tiêu dùng phải đứng ở mốc 10 – 11%/năm.

Đây là một nhiệm vụ khá khó khăn, nếu không muốn nói là không thể đạt được với điều kiện kinh tế thế giới khó khăn và đồng nhân dân tệ bị mất giá như hiện nay.

Để kích cầu tiêu dùng, không còn cách nào khác là phải tăng thu nhập bình quân hộ gia đình. Nhưng biện pháp này cũng có giá của nó. Hiện các nhà kinh tế đang lo ngại Trung Quốc bị mắc kẹt trong “bẫy thu nhập trung bình” – tình trạng trì trệ về kinh tế khi một quốc gia đã đạt đến một mức thu nhập bình quân nhất định do những lợi thế sẵn có (trong khoảng 5.000 – 10.000 USD/người), tốc độ tăng trưởng GDP/đầu người có nguy cơ chững lại tại mốc đó.

Theo số liệu của ngân hàng thế giới, tính đến cuối năm 2012, GDP/đầu người của Trung Quốc đứng ở mốc 6.091 USD/người, kết quả của xu hướng di dân từ nông thôn ra thành thị để kiếm việc làm thu nhập cao hơn.

Tỷ lệ nhân công tài thành thị tăng dẫn đến tỷ lệ việc làm tại các thành phố Trung Quốc tăng trong giai đoạn 2008 – 2012. (Nguồn: MOHRSS)

Chi phí nhân công tăng trong khi tính cạnh tranh về giá cả hàng hóa giảm xuống hoặc không đổi, khiến một mặt Trung Quốc khó có thể đối chọi với các nền kinh tế đã phát triển mạnh về công nghệ như Mỹ, Nhật Bản hay Hàn Quốc, mặt khác để mất thị phần xuất khẩu vào tay những nước có chi phí sản xuất rẻ hơn như Ấn Độ, Việt Nam, Indonesia…

Yếu tố thứ ba làm chòng chành con thuyền kinh tế của Trung Quốc là tỷ lệ nợ của nền kinh tế đã lên đến mức báo động. 

Các chính quyền địa phương Trung Quốc đã vay nợ rất nhiều sau cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu năm 2008 nhằm duy trì mức tăng trưởng.

Tổng khoản nợ của chính quyền địa phương Trung Quốc đang đứng 2,9 nghìn tỷ USD, tăng 70% so với 3 năm trước, theo số liệu của chính phủ công bố.

Hồi tháng Bảy năm ngoái, Cơ quan Kiểm toán Quốc gia nước này đã thống kê các khoản nợ tồn ở cấp địa phương. Kết quả cho thấy nhiều tỉnh đang trang trải các khoản nợ cũ bằng các khoản nợ mới, tạo ra tình trạng “nợ chồng nợ”.

Hiện Trung Quốc có tổng nợ chính phủ chiếm chừng 58% tổng sản lượng kinh tế, gần như đã tăng gấp đôi trong hơn hai năm qua, đây là tốc độ bành trướng cần phải cảnh giác, Kiểm toán Quốc gia nhấn mạnh.

Tăng trưởng tín dụng Trung Quốc có dấu hiệu đi xuống từ năm 2011.

Đến 80% lượng nợ địa phương đang được các ngân hàng nắm giữ, kéo theo lợi nhuận hệ thống ngân hàng sụt giảm và tỷ lệ nợ khó đòi gia tăng. Tổng số nợ xấu của ngành ngân hàng Trung Quốc trong năm 2013 đã chạm mốc 540 tỷ NDT, tăng 47 tỷ NDT so với hồi đầu năm 2012.

Đối với các doanh nghiệp nhà nước, họ thường được ưu tiên khi vay nợ của các ngân hàng quốc doanh, và vì cả hai đều thuộc sở hữu của Đảng cộng sản, nên tiền cho vay cũng chẳng khác gì lấy từ tay phải chuyển sang tay trái, nếu khó khăn không trả được nợ thì thôi… bỏ qua.

Tình trạng này đã tạo nên xu hướng “ỉ lại” trong các doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, do họ được “bao cấp” và chính phủ chống lưng ngay cả khi làm ăn thua lỗ.

Ngoài ra, thị trường trái phiếu Trung Quốc mới phát triển còn cho phép các công ty nhà nước phát hành trái phiếu chào bán ngoài công chúng để tự huy động tín dụng, góp phần đẩy lượng nợ trong nền kinh tế leo dốc theo cấp số nhân.

Nhưng khoản nợ trong ngân hàng Trung Quốc không đáng lo bằng lượng nợ trong tay các quỹ tín thác hoạt động tự do. Các quỹ này là một phần trong hệ thống “ngân hàng ngầm” của Trung Quốc, khi họ có thể huy động vốn và cho vay mà không phải tuân theo luật lệ ngân hàng bình thường.

Những công ty tư nhân có xếp hạng tín dụng kém thường gặp nhiều khó khăn trong việc vay tiền từ ngân hàng, nên họ phải tìm tới các quỹ tín thác như vậy. Tổng số nợ mà các quỹ tín thác cho vay năm nay đã lên tới 750 tỷ USD, 1/3 trong số đó đáo hạn vào năm nay, trong khi hàng loạt công ty Trung Quốc đang đứng trên bờ vực phá sản, khó có cơ hội thanh toán.

Tóm lại, việc đầu tư quá mức nhưng không phát huy hiệu quả, lực cầu nội địa giảm sút và tỷ lệ nợ quá cao là ba nguyên nhân đã đẩy nền kinh tế lớn thứ hai thế giới vào tình thế khó khăn.

Với phạm vi giao dịch thương mại rộng lớn như hiện tại, tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tiềm ẩn này sẽ vượt qua biên giới Trung Quốc để ảnh hưởng tới hệ thống kinh tế toàn cầu.

(Theo Bizlive)

Xem nhiều

Tin liên quan

Cùng sự kiện

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Video