+
Aa
-
Khi kiệt nằm giữa ngõ và hẻm
10/08/2013 09:32

Dân bản địa, kể cả người “có chủ nghĩa”, từ Đông Hà, Quảng Trị, trở vô đến Hội An, Quảng Nam…hình như ít ai đế ý rằng tại sao đô thị ở xứ mình lại dùng từ kiệt để chỉ cái ngõ phố (ngoài Bắc) hay cái hẻm phố (trong Nam). Có chi mà phải thắc mắc!

Tiếng địa phương nước mình nó vậy, một sự vật nhiều khi có ba tên gọi khác nhau ở ba vùng Bắc- Trung-Nam, chẳng hạn ba từ bát – đọi – chén cùng để chỉ một thứ “đồ dùng có dạng bán cầu để đựng cơm, canh, nước uống” như các nhà soạn từ điển mô tả. Cũng có vị quan tâm tìm hiểu, thì đưa ra phỏng đoán: phải chăng kiệt là do biến âm từ kẹt (giọng Quảng), được hiểu theo nghĩa là chỗ hẹp, chỗ tối khuất? Song đó có lẽ chưa là lời giải đáp thấu đáo.

Ngõ – kiệt – hẻm, dù hiểu cách nào thì chúng cũng là những từ tiếng Việt, định danh cho một dạng đường phố nhánh hẹp hay lối đi nhỏ trong các đô thị lớn bé ở Việt Nam. (Trước ngõ, ngõ đong tiếng ta chỉ có ngõ làng, ngõ xóm ở nông thôn: “Trong nhà chưa tỏ, ngoài ngõ đã tường” – tục ngữ?). Bát – đọi – chén là những thứ có từ thời…đồ gốm xa lắc xa lơ. Còn kiệt với hẻm, phải chăng chỉ mới sinh ra từ khi các đô thị hình thành và thương mại phát triển, khi mà nhà cửa hàng phố đã san sát, ngoài mặt tiền không đủ nên mới phải lùi sâu vào chỗ khuất? Đô thị miền Trung, dù cổ như Hội An cũng chỉ đông vui từ thế kỷ 16. Ở nơi là thương cảng phồn thịnh nhất xứ này, có thuyền buôn từ Nhật Bản, Trung Hoa, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Hà Lan… thường xuyên lui tới và trao đổi bán mua, thì thông qua sự tiếp xúc giao thương với nhiều người ngoại quốc, sẽ có những từ ngữ nước ngoài nào đó được “nhập cư” tại đây chăng?. Lùi xa hơn nữa, vùng đất miền Trung nơi phía bắc của Đàng Trong xưa vốn lại nằm trong vùng địa – lịch sử giao thoa giữa các nền văn hóa Đại Việt – Chăm Pa – Sa Huỳnh. Vì những lẽ trên, người viết bài này vẫn giữ nguyên niềm thắc mắc: Liệu từ kiệt có nảy sinh trong những điều kiện đặc thù ấy?

Khi kiệt nằm giữa ngõ và hẻm

Giữ nguyên niềm thắc mắc và mong chờ lời giải đáp cho rõ ngọn ngành; ấy là bởi người viết từng được “hậu đãi” sau một thời gian dài đặt dấu chấm hỏi về tên đường Bàn Cờ của Sài Gòn. Số là, tên gọi khu phố Bàn Cờ ở quận 3, TPHCM ngày nay thì ai ai cũng mặc nhiên hiểu (một cách hợp lý ) rằng, đó là do nơi đây có các đường phố giao nhau ngang dọc chia ô đều như hình bàn cờ, theo thiết kế quy hoạch trước kia của người Pháp. Thế nhưng tại sao trong khu phố này lại có đường Bàn Cờ? Mãi đến khi gặp dịp đem chuyện này hỏi nhà văn Sơn Nam, nhà Nam bộ học và là người có “đầy một bụng” Sài Gòn xưa, thì người viết mới được tỏ tường. Ông giải thích: Thuở mới làm xong tuyến đường sắt Sài Gòn – Mỹ Tho (là tuyến đường sắt đầu tiên ở Việt Nam và cả Đông Dương – khởi công xây dựng năm 1881, chính thức khánh thành năm 1885), vì cả tuyến chỉ có một làn đường ray duy nhất nên việc trở đầu máy xe lửa thật không đơn giản. Ở phía ga cuối Mỹ Tho, nhờ đất đai rộng rãi nên người ta cho xe lửa chạy thụt lùi mấy cây số, quẹo một đường vòng theo cung tròn ra ngoài đồng để trở đầu quay về phía Sài Gòn. Xe lửa khi đến ga Sài Gòn, muốn quay lại để đi xuống Mỹ Tho thì đầu máy phải tách riêng ra, chạy tiếp đến khu vực trở đầu. Tại đây, đầu máy trườn lên một cái mâm lớn có thể xoay được trên một trục vững chắc, đặng công nhân dùng sức đẩy để trở chiều cho. Vì cái mâm ấy có khía đường ray ngang dọc trông giống như hình cái bàn cờ, nên con đường chạy ngang qua khu vực này được dân gian gọi là đường Bàn Cờ rồi “chết tên” luôn.

Đến giữa thế kỷ 20, các loại hình giao thông thủy bộ trong vùng được đầu tư phát triển mạnh; tuyến vận chuyển bằng xe lửa Sài Gòn – Mỹ Tho cạnh tranh không nổi về hiệu quả kinh tế nên đã phải vĩnh viễn ngừng hoạt động từ năm 1958. Vài ba năm gần đây, có những người hoài cổ bỏ công đi tìm những gì còn lại của tuyến đường sắt lịch sử này; song chưa thấy ai để ý đến dấu tích “bàn cờ” ở cái tên một đường phố Sài Gòn như cố nhà văn Sơn Nam đã kể:

“Lòng yêu nước khởi đầu là yêu những vật tầm thường nhất”, để rồi “lòng yêu nhà, yêu hàng xóm, yêu miền quê đã trở nên lòng yêu Tổ Quốc” (trích từ một bài luận văn nổi tiếng của văn hào Nga ilia Erenbua). Nếu như vậy thì cũng xin thưa: một dấu chấm hỏi còn đó cho các kiệt ở đô thị miền Trung đã nói trên, hẳn cũng không đến nỗi vô tích sự. Và biết đâu chừng, nó sẽ lóe thêm chút cứ liệu về ngôn ngữ để rọi ánh sáng lên những sự kiện lịch sử nào đó – như các nhà ngôn ngữ học thường tự hào về tính chất khảo cổ trong môn khoa học của mình

BV (TBKTSG)

Bài mới
Đọc nhiều