Gặp những cựu cán bộ Công an kiên trung vì miền Nam ruột thịt: Cuộc đời tôi là “ngày Bắc đêm Nam” thương nhớ!

30/04/2013 11:52

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước trường kỳ, đã có hàng ngàn cán bộ miền Bắc được chi viện cho chiến trường miền Nam ruột thịt, nhưng cũng có hàng ngàn cán bộ miền Nam được lệnh tập kết ra Bắc để bảo vệ miền Bắc, bảo vệ Đảng, Bác Hồ, bảo vệ Thủ đô Hà Nội, củng cố hậu phương vững chắc cho ngày toàn thắng lịch sử 30–4.
Họ ra Bắc mang theo cả tuổi thanh xuân cống hiến cho cách mạng, có những người được lệnh ra Bắc là lên đường, không kịp từ biệt cha mẹ, anh chị em để rồi đằng đẵng mấy chục năm xa cách, hy sinh mọi tình cảm riêng tư…

Tôi đã tìm gặp được một người con miền Nam tập kết ra Bắc như thế. Ông cũng là một cựu sỹ quan Công an mang hai màu áo lính Công an, Biên phòng – Thượng tá Huỳnh Tấn Long, người 25 năm gắn bó với lực lượng Công an nhân dân vũ trang. Người lính cả cuộc đời xông pha trận mạc, bản lính thép là thế, nhưng khi nhớ lại hàng ngàn “ngày Bắc đêm Nam”, ông đã rơi lệ…

Thượng tá Huỳnh Tấn Long (hàng ngồi – ngoài cùng bên phải) cùng người bạn đời Thu Trang chụp ảnh kỷ niệm với các đảng viên cách mạng lão thành.
Thượng tá Huỳnh Tấn Long (hàng ngồi – ngoài cùng bên phải) cùng người bạn đời Thu Trang chụp ảnh kỷ niệm với các đảng viên cách mạng lão thành.

Thượng tá Huỳnh Tấn Long nghẹn giọng kể lại: “Theo Hiệp định Geneve ký kết thì cán bộ miền Nam phải “rút” khỏi miền Nam. Lúc đó tôi công tác ở Trung đoàn 84, được lệnh tập kết ra Bình Định khu 300 ngày ở miền Nam. Cấp trên nói là chuyến đi chỉ khoảng 2 năm, nào ngờ kéo dài suốt 20 năm. 20 năm đó không một ngày nào nguôi nỗi nhớ quê hương Phú Yên, nhớ miền Nam ruột thịt, nhưng vì nhiệm vụ chính trị cao cả, mình phải gạt riêng tư đi để chiến đấu, hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ của Đảng giao”…

Hai mươi năm, Thượng tá Huỳnh Tấn Long chỉ duy nhất một lần nhận được thư của anh trai cả, trong đó anh hỏi rằng: “Em ra Bắc lập gia đình chưa?”. (Cũng vì dòng thư này mà người con gái Hà Nội Thu Trang mới tin chàng trai Huỳnh Tấn Long chưa có vợ, để đi đến hôn nhân).  Sau ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, tôi mới có dịp trở về thăm mẹ. Mái nhà tranh không người đàn ông gánh vác oằn trên những thanh tre đã mối mọt. Mẹ tôi thấy có người bước vào thì hỏi: “Chú là cán bộ ở trên về à?”, mẹ không còn nhận ra tôi. “Con Long đây!”. Mẹ con nhận ra nhau chỉ có dòng lệ thay lời nói…”.

Gia đình Thượng tá Huỳnh Tấn Long là một gia đình cách mạng. Và chỉ một bài báo nhỏ này thật khó có thể chia sẻ hết những hy sinh mất mát khổ đau mà gia đình ông đã phải gánh chịu, cũng là một cách để thực hiện sứ mệnh cách mạng cao cả. Ông tập kết ra Bắc, ở nhà mẹ ông bị Mỹ ngụy khủng bố ghê gớm. Chúng đốt nhà, bà dựng lại nhà, chúng lại đốt, bà lại dựng. Ngày ông về chào mẹ để đi xa, bà buồn vô cùng, nhưng vẫn khuyên con nên đi, con ở nhà chúng cũng không để con yên. Ý chí quật cường của bà mẹ cách mạng đã chiến thắng âm mưu đớn hèn của kẻ địch. Anh cả của Thượng tá Huỳnh Tấn Long, ông Huỳnh Khanh đã ra chiến khu, có thời gian ông trở về quê hoạt động cách mạng 5 năm trời dưới hầm bí mật.

Không bắt được ông, chúng đã bắt con gái của ông đày ra đảo Phú Quốc, đi tù thay cha. Người con gái này sau 3 năm bị chúng tra tấn, hành hạ đã bị trọng bệnh, không thể xây dựng gia đình. Một người anh thứ của Thượng tá Huỳnh Tấn Long là Công an xã, trong một lần đi hoạt động cách mạng, bị chỉ điểm, ông đã hy sinh năm 1964.

Cũng trong năm này, người em của Thượng tá Huỳnh Tấn Long khi đi trinh sát đã trúng đạn địch và cũng hy sinh khi chưa lập gia đình. Giờ nhớ lại sự hy sinh của người anh và người em, Thượng tá Long vẫn còn đau đớn và thương mẹ đến tận cùng. Lúc đó, ba thì mất rồi, bốn đứa con trai thì hai đứa hy sinh, một đứa ra Bắc biền biệt, mình bà cô lẻ giữa mái nhà tranh hiu quạnh. Sau này, nhớ mẹ, Thượng tá Huỳnh Tấn Long đã viết bài thơ “Mẹ ơi” tha thiết: “Nuôi con khôn nhớ cậy nhờ/ Con đi phương Bắc, mẹ chờ phương Nam/ Hai con giặc giết dã man/ Một con xa mẹ, vùng căn cứ nằm/ Con thì ngày Bắc, đêm Nam/ Khảo tra mẹ chịu, gian nan mẹ chờ/  Sông sâu còn có chỗ dò/ Quặn đau lòng mẹ sao đo cho cùng…”.

Tập kết ra Bắc, chàng trai trẻ Huỳnh Tấn Long được bổ sung vào Sư đoàn Pháo binh 351. Thời điểm đó, theo Chỉ thị của Hồ Chủ tịch “cần phải có một trung đoàn miền Nam” nên các đơn vị gấp rút hành quân về Hà Nội, bảo vệ các mục tiêu quan trọng trong nội thành như nhà máy điện, nhà máy nước, cơ khí Trần Hưng Đạo, cầu Long Biên, sân bay Gia Lâm; đồng thời bảo vệ các cơ quan Trung ương, ngoại giao đoàn, trong đó có Ủy ban Giám sát quốc tế Hiệp định Geneve. Cũng thời điểm này, ở miền Nam, Ngô Đình Diệm hô hào lấp sông Bến Hải, Bắc tiến, gây vụ thảm sát ở Ngân Sơn – Chỉ Thạnh (Phú Yên), đàn áp truy bức những người kháng chiến cũ. Ở ngoài Bắc, nghe tin quê hương bị giày xéo, lòng người con miền Nam quặn đau, càng quyết tâm dốc sức chiến đấu để ngày thống nhất đất nước cận kề hơn.

Năm 1959, lực lượng Công an nhân dân vũ trang được thành lập. Thượng tá Huỳnh Tấn Long đã trở thành cán bộ Công an nhân dân vũ trang từ ngày đó. Ông kể, nhiệm vụ của cán bộ Công an vũ trang rất nặng nề, nhưng đầy vinh quang. Đó là bảo vệ biên giới hải đảo, giới tuyến quân sự tạm thời Quảng Bình – Vĩnh Linh – từ Vĩ tuyến 17. Bảo vệ nội địa: Trung ương Đảng, Bác Hồ, các cơ quan Ngoại giao đoàn, đại sứ quán, lãnh sự các nước, các cơ sở kinh tế văn hóa. Đâu đâu cũng thấy chiến sỹ mang quân hàm xanh vũ trang tuần tra, canh gác. Trong thời kỳ chống Mỹ cứu nước, lực lượng Công an nhân dân vũ trang còn đóng vai trò nòng cốt, chống phỉ, chống biệt kích, thám báo thắng lợi, bảo vệ lá cờ Tổ quốc hiên ngang phấp phới bay trên phía Bắc địa đầu cầu Hiền Lương…

Trong những chặng đường lịch sử đó, Thượng tá Huỳnh Tấn Long tâm sự, niềm tự hào, vinh dự lớn nhất của đời lính tập kết ra Bắc như ông là được Đảng, Bác Hồ, nhân dân miền Bắc ưu ái, giáo dục trưởng thành. Chiến tranh là sự thử thách lý tưởng, phẩm chất của con người, có hy sinh, mất mát nhưng cái được lại lớn lao vô cùng – đó là độc lập, thống nhất Tổ quốc. “Tôi may mắn được vinh dự là chiến sỹ miền Nam trực tiếp bảo vệ Đảng, Bác Hồ, là người con của hai miền Nam Bắc, Hà Nội là quê hương thứ hai của tôi nhưng trong lòng tôi vẫn tự nhủ: “Dù cho xa cách quê nhà/ Mà sao lòng vẫn thiết tha quê mình/ Nơi cắt rốn, nơi khai sinh/ Mẹ cha, nguồn cội, suối tình quê hương”…

(CAND)

Xem nhiều

Tin liên quan

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Video