Cách mạng tháng Tám trong mắt người nước ngoài

19/08/2014 09:34

Hơn sáu mươi năm qua, có nhiều người phương Tây viết về Cách mạng tháng Tám (CMTT) 1945 ở Việt Nam, với hàng trăm tác phẩm do các sử gia, nhà nghiên cứu, nhân vật chính trị và quân sự, nhà báo… được công bố. Dù khách quan hay còn định kiến, các tài liệu đó cũng bổ sung cho chúng ta nhiều thông tin tương đối xác tín về các sự kiện lịch sử diễn ra năm 1945 cùng tư duy và hành động của những nhân vật cách mạng Việt Nam nổi tiếng đương thời như Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp…

MỘT DÂN TỘC ĐÃ VÙNG LÊN!

Có thể liệt kê và trích dẫn các nhận xét ghi trong một số lượng không nhỏ công trình nghiên cứu chuyên sâu của phương Tây về lịch sử Việt Nam, trong đó luôn nhắc đến CMTT 1945 như một cái mốc đặc biệt quan trọng.

Khởi đầu là các tác giả Pháp, gồm sử gia, nhà nghiên cứu lẫn nhà báo, với các cuốn như: “Histoire du Việt Nam de 1940 – 1952” (Lịch sử Việt Nam 1940 – 1952) của Phillip Devillers, 1952; “Vietnam: Sociologie d”une guerre” (Việt Nam: xã hội học về một cuộc chiến) của Paul Mus, 1952.

Bổ sung cho nguồn sử liệu này, năm 1969, nhà báo Pháp Jean Lacouture đã viết cuốn “Hồ Chí Minh”, cuốn sách ngắn gọn nhất ở phương Tây về tiểu sử Bác Hồ và CMTT. Philippe Devillers viết tiếp cuốn “Paris – Sài Gòn – Hà Nội: Văn thư lưu trữ về chiến tranh 1944 – 1947”, in năm 1988, lần đầu tiên đưa ra tư liệu lâu nay nằm trong kho lưu trữ mật của Pháp, chỉ mới được công bố sau khi kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp.

Nhưng hai cuốn sách quan trọng lại do Jean Sainteny, nhà thương thảo Pháp với chính quyền non trẻ của nước Việt Nam độc lập vào thời điểm đó, có rất nhiều điều để ta tham khảo. Cuốn đầu mang tên “Histoire d’une paix manquée – Indochine 1945 – 1947” (Lịch sử về một nền hòa bình bị đánh mất – Đông Dương 1945 – 1947), in năm 1967. Một tuyển tập viết khá sinh động là: “Au Viet Nam face à Ho Chi Minh” (Đối mặt với Hồ Chí Minh tại Việt Nam) ra mắt năm 1972.

Việt Nam trong gông cùm đế quốc trước 1945

Ký giả Pháp kỳ cựu Phillip Devillers cho rằng: “Cuộc cách mạng không phải là sự bùng nổ… Chỉ có một sự hội tụ kỳ lạ các điều kiện mới khiến cho cách mạng thực hiện được”. Các điều kiện ấy là Nhật đảo chính Pháp, nạn đói năm Ất Dậu, tình trạng gần như vô chính phủ ở Việt Nam. Theo Devillers, nếu không có “sự hội tụ kỳ lạ” những việc này, Việt Minh “khó có cơ may… để thắng được cấu trúc mạnh mẽ của Pháp…”.
Gần tương đồng với quan điểm này của Devillers, nhà sử học thuộc thế hệ trẻ Na Uy S.Tonnesson trong cuốn “The Vietnamese Revolution of 1945 – Roosevelt, Ho Chi Minh and de Gaulle in a World at War” (Cách mạng Việt Nam 1945 – Roosevelt, Hồ Chí Minh và De Gaulle trong một thế giới chiến tranh) in năm 1991, đã cho rằng Hồ Chủ tịch đã thực hiện tổng tuyển cử, thành lập chính phủ hợp pháp dựa trên quyền tự do dân chủ: “Cuộc cách mạng ở Việt Nam năm 1945 là một cuộc cách mạng giải phóng dân tộc, không chỉ có vậy, đó còn là một cuộc cách mạng chính trị chống lại nền quân chủ thối nát, và là một cuộc cách mạng xã hội chống lại chủ đất và những người thu thuế”.

Toàn dân Việt Nam với “tầm vông vạt nhọn” đã vùng lên!

Một điểm thú vị là không phải tất cả các tác giả đều là sử gia chuyên nghiệp. Dường như chính điều đó khiến mỗi người có cách tiếp cận khác nhau về mỗi sự kiện, biến cố lịch sử.

Nếu Devillers là nhà báo, Sainteny là nhà chính trị, thì Paul Mus là học giả về châu Á, cố vấn của Cao ủy Pháp tại Sài Gòn Emile Bollaert. Ông Mus từng gặp Hồ Chủ tịch ở chiến khu để tìm kiếm cơ hội “điều đình” với Chính phủ Việt Nam, đặt điều kiện phải cho quân Pháp được đi lại trong vùng do Việt Minh kiểm soát.
Hồ Chủ tịch đã hỏi Paul Mus: “Ở địa vị tôi, ông có chấp nhận như thế không?”. “Không” – Paul đáp. Và Hồ Chủ tịch đã bác bỏ các đề nghị “cầu hòa” đó của phía Pháp.

Câu chuyện này được nhà báo Mỹ Stanley Karnow (năm 1997) về sau này thuật lại trong cuốn sách của ông “Vietnam – A History” (Việt Nam – một thiên sử). Karnow cũng đánh giá Paul Mus là “có tình cảm với Việt Minh”. Về phần mình, Mus được coi là người đầu tiên đã phân tích nguyên nhân xã hội – chính trị sâu xa của CMTT, ngay từ năm 1952. Theo Mus – từ giác độ một nhà nghiên cứu châu Á và ủng hộ hòa bình ở Đông Dương – chính quyền thực dân Pháp phải chịu trách nhiệm về việc đã phá vỡ cơ sở và cấu trúc kinh tế – xã hội của Việt Nam, khiến Việt Nam trở thành một dân tộc mất cân bằng; và CMTT là cách người Việt Nam lập lại thế cân bằng đó.

Không có gì quá lạ khi hai tác giả người Mỹ sau này là Stanley Karnow và William Duiker dành nhiều dòng để viết về mối quan hệ Việt Nam – Mỹ từ thời “xa xôi” 1945 – 1946. Hai ông cũng nói nhiều về thái độ nhìn nhận và cách ứng xử của Chủ tịch Hồ Chí Minh đối với những đại diện cho Washington ở Việt Nam thời kỳ ấy.

Nhà báo Stanley Karnow đã viết tương đối kỹ về một thời gian Hồ Chí Minh phải chèo lái con thuyền cách mạng để giữ vững nền độc lập trong bối cảnh quốc gia và quốc tế rất phức tạp. Ông cho rằng chính việc để quân Tưởng Giới Thạch vào giải giáp phát xít Nhật ở miền Bắc, quân Anh vào tiếp quản miền Nam, chia hai miền tại vĩ tuyến 16, đã là “một công thức nấu món thảm họa”.

Viên đô đốc người Anh, Douglas Gracey, đã tỏ ra có quá ít kinh nghiệm chính trị khi tuyên bố “việc kiểm soát về dân sự và quân sự của người Pháp (đối với Đông Dương) chỉ là trong vài tuần nữa”, bất chấp việc Hồ Chủ tịch tuyên bố độc lập cho Việt Nam vào ngày 2-9-1945.

Bác Hồ và Đại tướng Võ Nguyên Giáp với các sĩ quan OSS Mỹ

Khi ở nước ngoài, tôi chú ý nhất cuốn sách của cựu thiếu tá tình báo chiến lược Mỹ OSS Archimedes L. Patti viết năm 1980, nói rõ về mối quan hệ đầu tiên giữa chính quyền Việt Minh và Hoa Kỳ: “Why Vietnam? Prelude to America’s Albatross” (Tại sao Việt Nam? Khúc dạo đầu cho cuộc phiêu lưu của Mỹ). Theo đó, nếu như những báo cáo tích cực của những nhà tình báo chiến lược Mỹ được Washington chú ý nghiên cứu nghiêm chỉnh thì có lẽ Việt Nam và Hoa Kỳ đã sớm bang giao từ ngay sau Thế chiến thứ hai chứ không phải đợi đến nửa thế kỷ sau, vào năm 1995.

Những chi tiết này hé lộ nhiều điều, có lẽ rất gần với sự thật lịch sử, hoặc ít nhất cũng có giá trị thông tin hết sức thú vị, về tư tưởng và hành động của Hồ Chủ tịch – nhà cách mạng lỗi lạc.

MỘT CHÍNH QUYỀN CÁCH MẠNG TIẾN BỘ

“Việt Nam năm 1945: Giành quyền lực” của David G.Marr là cuốn sách được Hiệp hội châu Á học Mỹ đánh giá cao và trao giải thưởng Fairbank cho công trình nghiên cứu xuất sắc nhất năm 1996.

Sách quay về khởi điểm năm 1940 khi nổ ra Thế chiến II, Pháp đầu hàng phát xít Đức và chính quyền thuộc địa Pháp ở Đông Dương buộc phải hợp tác với quân phiệt Nhật để duy trì guồng máy cai trị. Marr cho rằng vào giai đoạn này chỉ có Việt Minh là tổ chức cách mạng duy nhất hoạt động kiên trì và hữu hiệu nhất nhằm tổ chức nhân dân đứng lên giành độc lập dân tộc vào năm 1945.

Chính tổ chức tình báo chiến lược OSS Mỹ (tiền thân của CIA) chống quân Nhật đã hợp tác rất sớm với Bác Hồ và Việt Minh. Tổng thống Mỹ lúc đó là Roosevelt chủ trương chống việc thực dân quay lại các thuộc địa sau Thế chiến II. Nhưng khi ông mất đi, người kế nhiệm là Truman, với sự đồng lõa của đế quốc Anh đã ủng hộ chính quyền thực dân Pháp De Gaulle đánh chiếm lại Đông Dương.

Sử gia người Mỹ William Duiker lại trình bày các nguyên nhân dẫn đến CMTT một cách hết sức thực tế: “Rõ ràng là nạn đói ở miền Bắc và Trung Việt Nam kéo dài dai dẳng từ mùa đông trước, đã tạo ra một tình thế thuận lợi cho các lực lượng cách mạng… Đói kém tràn lan đã tạo ra cơ hội ngàn vàng cho Việt Minh. Họ tiếp tục khuyến khích nông dân đang bị đói, ở những khu vực mà họ đã giải phóng, phá các kho thóc công để chia cho dân nghèo…

…Trong khi đó, lạm phát đang tăng rất nhanh… Với chi phí sinh hoạt lên cao và tình trạng khan hiếm lương thực tiếp diễn, nhiều người dân trung lưu ở Hà Nội và các thành phố lớn bắt đầu để ý đến Việt Minh, và thậm chí một số đã mua “trái phiếu cách mạng” để gây cảm tình với chính quyền cách mạng tiềm tàng trong tương lai”.

Duiker đã ghi lại những tư liệu cho thấy tinh thần dân tộc và tính nhân văn của một chính phủ cách mạng non trẻ trong hoàn cảnh khó khăn chất chồng: “Chính phủ mới đã thông qua một loạt biện pháp khẩn cấp để chống nạn đói… Thuế nông nghiệp được giảm và sau đó miễn hoàn toàn, một sở tín dụng nông nghiệp được lập ra để giúp nông dân vay vốn dễ dàng hơn…”.

Chính phủ mới cũng đã ra một sắc lệnh (mà theo Duiker là “đậm màu sắc Khổng giáo”) yêu cầu tất cả mọi người Việt Nam trong vòng một năm phải biết đọc, biết viết. Chính nhờ sự quyết tâm của chính quyền, đến mùa thu năm sau, trên 2 triệu người đã thoát mù chữ.

HỒ CHÍ MINH, TIỂU SỬ CHÍNH TRỊ (1890 – 1945)

Pino Tagliazucchi là tác giả người Ý của cuốn “Tiểu sử chính trị Hồ Chí Minh (1890 – 1945)” do Nhà xuất bản Harmattan, Italia xuất bản năm 2004.

Ông lý giải cách mạng Việt Nam như sau: “Điều gây ấn tượng cho tôi nhất trong suốt lịch sử cuộc đấu tranh giành độc lập ở Việt Nam – tôi muốn nói đến giai đoạn các năm 1941 – 1945, và cả những năm chiến tranh – đó là đường lối trường kỳ kháng chiến, không phải chỉ chờ đợi mà còn phải biết chuẩn bị để nắm bắt được “thời cơ”.

Đại tướng Võ Nguyên Giáp có kể lại rằng, khi từ Trung Quốc quay về nước, Người (Chủ tịch Hồ Chí Minh) đã yêu cầu ngưng ngay cuộc khởi nghĩa và đề xuất lập đội “Tuyên truyền Giải phóng quân”. Nếu tôi không lầm thì đây là một bước ngoặt quan trọng nếu so sánh nó với xu hướng nôn nóng muốn chuyển ngay sang hành động. Tuy vậy ở Tân Trào thì lại khác, Người đã quyết định phải cấp tốc tiến hành khởi nghĩa, không còn chần chờ gì nữa. Phải chăng đó là ý nghĩa của yếu tố “thời cơ”.
Và cuối cùng: “…Với bản Tuyên ngôn độc lập đọc ở quảng trường Ba Đình vào ngày 2-9-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện được ước mơ của cả một dân tộc và cả đời mình”.

Xuất phát từ những quan điểm và tâm thế chính trị khác nhau, không phải tất cả các tác giả đều có thể vươn tới sự thật và mang nó tới cho độc giả. Càng không phải tất cả đều chia sẻ những quan điểm thống nhất về CMTT 1945. Nhưng các tác phẩm phản ánh những góc nhìn của họ về một sự kiện trọng đại trong lịch sử cận hiện đại Việt Nam, ngoài ra, ít nhiều, chúng đều mang lại cho chúng ta một số lượng không nhỏ những thông tin có giá trị tham khảo.

Cho dù có những khác biệt trong đánh giá về nguyên nhân và bản chất của CMTT, các nhà viết sử nước ngoài đã gặp nhau khi chỉ ra trong các cuốn sách của họ vai trò to lớn của Mặt trận Việt Minh, tinh thần dân tộc của thời đại, cũng như tầm tư tưởng vươn xa của Chủ tịch Hồ Chí Minh.

NGUYỄN HỮU THÁI (Canada)

(Theo CATP)

Xem nhiều

Tin liên quan

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Video