30 năm sau đổi mới: Một chặng đường dũng cảm

17/11/2017 19:16

Hơn một thế kỷ trước, lịch sử đẩy đã nước ta đến hai lựa chọn khắc nghiệt, hoặc mở cửa canh tân đất nước hoặc trở thành nô lệ. Đáng tiếc, chúng ta đã có một quyết định sai lầm, không những cơ hội “thay da đổi thịt” vụt mất mà còn là “cái giá trăm năm” cho đất nước đau đớn, hoang tàn. Thế nhưng, vòng xoay lịch sử đã lặp lại một trăm năm sau đó. Năm 1986, sự tồn vong của đất nước lại lần nữa được đặt ra trong cơn những hiểm nguy ngặt nghèo. Việt Nam đã đưa ra quyết định cuối cùng mà mãi về sau, được biết đến như một quyết định táo bạo – tiến hành mở cửa và hội nhập đất nước.

Đổi mới và “bài học” đánh đổi bằng 100 năm lịch sử

Cuối năm 1858, khi những viên đại bác đầu tiên của người Pháp phá nát những bờ lũy đầu tiên của Việt Nam trên bán đảo Sơn Trà, Đà Nẵng. Đấy cũng chính là thời điểm đánh dấu cho sự sụp đổ của bức tường thành cuối cùng cho một xã hội Phong Kiến đang hấp hối. Hơn bao giờ hết, cả dân tộc đang cực lực vẫy vùng để thoát khỏi “chiếc áo nghìn năm”, nay đã quá đỗi chật hẹp.

Triều đình nhà Nguyễn lúc bấy giờ đã đứng trước hai “ngã rẽ” lịch sử khắc nghiệt. Và khi quyết định cuối cùng được đưa ra, nó sẽ đẩy cả dân tộc theo hai chiều hướng khác nhau mãi về sau. “Cái giá” cho một sự lựa chọn sai lầm không bao giờ là nhỏ.

Một, phải tiếp tục bằng lòng với cái gọi là “giang sơn cơ đồ” mà tổ tiên để lại, e sợ trước sức mạnh của người Pháp và lo lắng cho một cuộc hội ngộ Đông –Tây quá liều lĩnh. Từ đó, đi đến quyết định “đóng cửa cài then” đất nước thêm vài mươi năm nữa để níu kéo một giai đoạn lịch sử đã đi vào hồi kết.

Hai là phải tự nhận thấy thời thế mà tự thúc giục bản thân, ra sức canh tân, xây dựng đất nước trở nên hùng cường trước sự lăm le của những đế quốc phương Tây hiếu chiến. Dù rất nguy hiểm, thế nhưng hướng đi này ít nhất cũng trao cho dân tộc một cơ hội thay đổi trong tình thế nguy cấp. Đáng tiếc, phương án được chọn khi đó là số 1.

Đáng nói, mùa xuân năm 1854, khi lâm vào tình thế giống Việt Nam, người Nhật đã đưa ra một lựa chọn hoàn toàn trái ngược cho đất nước mình và lịch sử đã chứng minh tính đúng đắn của quyết định đó. Kết quả, hai quốc gia vốn tương đồng ở điểm xuất phát, thế nhưng Nhật Bản nhanh chóng lớn mạnh thỏa sức “vẫy vùng” giữa những đế quốc và về sau là một siêu cường kinh tế hàng đầu. Trong khi đó Việt Nam vẫn phải loay hoay suốt một thế kỷ cho sự độc lập và hòa bình đã bị tước mất của mình. Thời thế đã đổi thay quá nhanh chóng, “kẻ thì một trời, người lại một vực”.

Và rồi năm 1986, một lần nữa, lịch sử lại đẩy dân tộc Việt Nam đến “ngã rẽ” quyết định, dù cách nhau cả trăm năm, nhưng vẫn có sự tương đồng “sống còn” đến kỳ lạ.
Hàng chục năm xây dựng đất nước, dù đạt nhiều thành tựu hết sức to lớn thế nhưng, với những chiến lược quá “duy ý chí” và xa rời thực tiễn đã đẩy đất nước đến tình cảnh khó khăn. Dù cả dân tộc gồng mình nỗ lực để xây dựng một đất nước giàu mạnh, nhưng con đường tiến đến mục tiêu Xã hội chủ nghĩa tiến bộ vẫn chỉ ngày một xa vời.

Nhìn lại một quãng đường 30 năm vất vả và tự hào, tự hỏi: Đất nước sẽ như thế nào nếu chúng ta đã không dũng cảm đưa ra quyết định mở cửa 30 năm trước?
Nhìn lại một quãng đường 30 năm vất vả và tự hào, tự hỏi: Đất nước sẽ như thế nào nếu chúng ta đã không dũng cảm đưa ra quyết định mở cửa 30 năm trước?

Quá nhiều yếu kém cũng dần được bộc lộ

Sản xuất đình đốn, năng suất lao động ngày càng thấp, thiếu đói trầm trọng, lạm phát phi mã 700%…. trong khi đó, nền kinh tế quốc gia lại bị “bó hẹp” trong cơ chế bao cấp, tính thị trường bị xóa bỏ hoàn toàn. Sự phụ thuộc vào viện trợ đến từ nước ngoài ngày một rõ ràng trong khi nền kinh tế vẫn con quá non yếu. Bên cạnh đó, lĩnh vực đối ngoại đầy khó khăn khi xung quanh chúng ta là đầy các quốc gia có thái độ thù địch, bao vây cấm vận. Một tình cảnh trầm trọng mà phải được ví như “nghìn cân treo sợi tóc” mới hết thấy được.

Thế nhưng điều nguy hiểm nhất, các yếu kém này dường như được chấp nhận như một sự thật hiển nhiên, nhận thức về xây dựng đất nước bỗng trở nên lệch lạc và cứng nhắc.

Và Việt Nam phải dò dẫm từng bước trong bóng tối với một tư duy và tầm nhìn “mù mịt”. Kết quả, chúng ta đã phải gánh chịu một cuộc khủng hoảng sâu rộng trong cả nền kinh tế và xã hội mà từ trước đến giờ chưa từng nếm trải. Vận nước lâm nguy mà lòng dân thì vẫn chưa yên. Nếu không đổi mới, bài học lịch sử sẽ một lần nữa được lặp lại.

Đáng mừng thay, tại thời khắc quyết định nhất, chúng ta đã không đi vào vết xe đổ của lịch sử. Việt Nam đã chính thức mở cửa và đổi mới đất nước bất chấp thời điểm khó khăn và hiểm nguy nhất. Một nguồn sinh khí mới lan rộng, nhanh chóng thổi vào tận sâu trong mọt miền đất nước, thổi vào cả tâm trí của mỗi người con dân tộc.
Giữa cuộc chơi “siêu cường” khốc liệt, chúng ta tiến ra thế giới

Bước ra một thế giới khi những viên đại bác xâm lược được thay bằng những “viên kẹo” kinh tế thị trường ở thế kỷ XXI và rằng những cuộc chiến kinh tế lại gay gắt, nguy hiểm hơn cả. Châu Á – Thái Bình Dương trong thời đại mới lại khu vực trung tâm của sự cạnh tranh đó, nơi mà các “cuộc chiến” diễn ra bởi các đòn cạnh tranh khốc liệt và dòng chảy hàng hóa bất tận trên một thị trường tự do rộng lớn.

Các siêu cường kinh tế thế giới, với sức mạnh GDP tính từ hàng chục nghìn tỷ USD, quyết tâm “biểu dương” sức mạnh trong một trật tự mới. Một “luật chơi mới” trên nền kinh tế toàn cầu qua đó, cũng dần được thiết lập. Và khi một quốc gia thất bại trong “trận chiến” – vốn đã được định hình bởi các siêu cường kinh tế, sự “gục ngã” ngay trên quê hương của chính mình là điều khó tránh khỏi và Việt Nam cũng không là ngoài lệ. Bài học đắt giá cho sự thất bại trong phát triển của các quốc gia Nam Mỹ, Châu Phi vẫn còn đó và rằng, không hề có sự khoan dung cho kẻ thua cuộc.

Chúng ta bước vào công cuộc đổi mới, bước vào nền kinh tế toàn cầu – cuộc chơi giữa các siêu cường hàng đầu là Mỹ, Nhật Bản, EU… với nền tảng chỉ là thu nhập bình quân là 88 USD/người, mức thu nhập kém hơn họ từ 50 cho đến 100 lần và cũng là mức thấp nhất thế giới lúc bấy giờ. Hạ tầng cơ sở chúng ta thua kém 50 năm, khoa học kỹ thuật cũng đi sau họ ít nhất vài thập kỷ, chưa kể đến những vết thương do những cơ chế tụt hậu và bước đi sai lầm để lại trong hàng chục năm, nay đã ăn sâu vào tiềm thức nhân dân.

Tuy vậy, động lực để tồn tại và hướng tới phồn vinh trong vị thế một quốc gia giàu mạnh đã đẩy Việt Nam phải bước vào trận chiến không có tiếng súng, không cảnh máu đổ. Nhưng theo chuyên gia Huỳnh Bửu Sơn, thành viên tổ tư vấn cấp cao chính phủ: “nó là một trận chiến có tính sống còn!”

Việt Nam phải đối đầu với những tập đoàn đa quốc gia “sừng sỏ” với tiềm lực tài chính khổng lồ. Lực lượng doanh nhân hùng hậu của họ được “vũ trang tận răng” bằng những kiến thức và kỹ năng thị trường nhuần nhuyễn. Trong khi đó, đứng đằng sau lại là các chính phủ “lão làng”, nhanh nhạy trong thời cơ và hiệu quả trong điều tiết nền kinh tế.

Thế nhưng không gì là không thể, chỉ trong vòng 30 năm, chúng ta đã làm nên những kỳ tích đáng kinh ngạc và đầy tự hào.

Thành quả của “bước ngoặt” 30 năm trước

Trong khi Liên Xô và một loạt hệ thống các quốc gia Đông Âu sụp đổ sau những sai lầm trong cải cách, chúng ta vẫn mạnh dạn đổi mới đi lên theo con đường của riêng mình. Chỉ trong vòng 30 năm – khoảng thời gian không phải là quá dài, Việt Nam đã được biết đến là quốc gia thứ hai trên thế giới có nền kinh tế phát triển liên tục và mạnh mẽ trong 31 năm liền, một kỷ lục mà trước đó chỉ có người Trung Quốc nắm giữ.

Quy mô nền kinh tế gia tăng nhanh chóng, gấp hàng chục lần so với thời điểm mở cửa đổi mới đất nước. Theo thống kê năm 2016 của World Bank (WB), quy mô nền kinh tế Việt Nam ước đạt 202,616 tỷ USD, tăng gấp 32 lần so với GDP trong năm 1989 giai đoạn đầu hội nhập.

Trong khi đó, năm 2017 còn được dự đoán có sự tăng trưởng mạnh mẽ hơn nhiều với mức tăng GDP đạt 6,7% vào cuối năm, chỉ tính riêng lĩnh vực xuất khẩu ước đạt 210 tỷ USD – đứng trong hàng ngũ các quốc gia có giá trị xuất khẩu lớn nhất thế giới hiện nay. Từ đây, Việt Nam đã nhanh chóng thoát khỏi nghèo đói và trở thành quốc gia có thu nhập trung bình. Cụ thể, thu nhập bình quân trên đầu người của Việt Nam đạt mốc mức 2.200 USD/năm so với mức 88 USD thì đây là một bước tiến lớn trong việc cải thiện đời sống của nhân dân.

Đặc biệt với tầm nhìn chiến lược, trong khi nguồn lực trong nước còn nhiều hạn chế, Việt Nam đã nhanh chóng “mời gọi” các dòng đầu tư từ nước ngoài như là một nguồn lực mới với tính hiệu quả cao. Hiện tại, Việt Nam đã có tới hơn 310 tỷ USD đầu tư FDI từ hàng trăm quốc gia đổ vào, một con số khổng lồ đáp lại cho sự thành công trong chiến lược quảng bá và thu hút của Việt Nam – một trong những quốc gia hàng đầu về hiệu quả trong đầu tư FDI.

Tuy vậy, Việt Nam vẫn rất khôn ngoan trong cân bằng các nguồn lực. Doanh nghiệp FDI nước ngoài luôn sẵn sàng bóp nghẹt nguồn lực cạnh tranh trong nước sở tại bằng chính sức mạnh tài chính và kỹ thuật của mình. Đối với một nền kinh tế non trẻ đang đi lên như Việt Nam, thì đấy là một thách thức lớn cho lĩnh vực sản xuất trong nước.
Một cách nhanh chóng, chúng ta thực hiện việc đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ hợp tác kinh tế, kêu gọi sự đầu tư từ nhiều quốc gia để hình thành nên thế đối trọng giữa các bên. Cùng lúc đó, hàng chục nghìn doanh nghiệp Việt Nam lại được thành lập và phát triển, bước qua giai đoạn “non yếu” để trở thành nguồn động lực chính có tính quyết định chính trong nền kinh tế quốc gia.

Rõ ràng, Việt Nam đã có những bước tiến đầy mạnh mẽ chỉ trong một thời gian tương đối ngắn. Quyết định mở cửa đổi mới vào năm 1986 của chúng ta đã được chứng minh tính đúng đắn.

Đất nước nhanh chóng vượt qua sự “sàng lọc” khắc nghiệt của lịch sử và những biến cố của thời đại để tiếp tục đi lên. Hơn ai hết, chúng ta hiểu rõ nhất “cái giá” phải gánh chịu cho một sự nhu nhược bỏ lỡ thời cơ của hơn trăm năm trước và rồi hình thành sự quyết tâm vươn lên tại thời khắc quyết định cách một thế kỷ sau đó. Nhìn lại một quãng đường 30 năm vất vả và tự hào, tự hỏi: Đất nước sẽ như thế nào nếu chúng ta đã không dũng cảm đưa ra quyết định mở cửa 30 năm trước?

CTV Hoa Nắng

Xem nhiều

Tin liên quan

Cùng sự kiện

BẠN CÓ THỂ QUAN TÂM

Video